Xương đầu mặt

Các bạn đang xem bài viết tại Ykhoaonline.com

≡ Mục lục

XƯƠNG SỌ

content_Skull_Anterior_ViewSọ (cranium) được cấu tạo bởi 22 xương, trong đó 21 xương kết lại với nhau thành một khối bởi các đường khớp bất động, chỉ riêng xương hàm dưới tách rồi liên kết bởi một khớp động: khớp thái dương — hàm dưới.

n_001

Sọ gồm hai phần:

- Sọ thần kinh (neurocranium) hay sọ đầu, tạo nên một khoang rỗng lớn gọi là hộp sọ (cavitas cranii), chứa não, và có hai ống tai mở ra hai bên.

— Sọ tạng (viscerocranium) hay sọ mặt có những hốc mở ra phía trước là các ổ mắt (orbita), ổ mũi (cavitas nasi), ổ miệng, chứa đựng các cơ quan thị giác, khứu giác, vị giác, các tạng thuộc phần đầu của đường hô hấp và tiêu hóa.

Hộp sọ được chia thành vòm sọ (calvaria) hay sọ màng, và nền sọ (basis cranii) hay sọ sụn (chondrocranium).

Hộp sọ nhất là vòm sọ được tạo chủ yếu bởi các xương dẹt lúc khởi thủy phôi thai là màng, khi đã cốt hóa tạo nên những đường khớp bất động, gọi là khớp khâu (sutura). Nên ở trẻ sơ sinh vẫn còn lại những phần màng, chưa cốt hóa hết gọi là các thóp (fonticuli cranii) nằm ỏ nơi giao nhau của các đường khớp khâu.

+ Thóp trước (fonticulus anterior): là thóp rộng nhất, ở nơi giao nhau của khớp khâu dọc giữa (sutura sagittalis) và khớp khâu vành (sutura coronalis).

+ Thóp sau (fonticulus posterior): nơi giao nhau của khớp khâu dọc giữa và khớp khâu lamda (sutura lambdoidea)

+ Thóp bướm (fonticulus sphenoidalis): nơi giao nhau của các khớp khâu I bướm trán (sutura sphenofrontalis), bướm trai (sutura sphenosquamosa), bướm đỉnh (sutura sphenoparietalis) và khớp khâu trai (sutura squamosa).

+ Thóp chũm (fonticulus mastoideus): nơi giao nhau của các khớp khâu đỉnh chẩm (sutura parieto occipitalis), lamda (sutura lambdoidea) và châm chũm (sutura occipitomastoidea)
n_008

Trên phim Xquang, xương đầu mặt của trẻ sơ sinh có nhiều xương lẻ ở 2 bên đường giữa còn chưa dính liền nhau thành một khối (như xương hàm dưới, xương trán, xương chẩm), chưa hình thành các xoang, các xương ở vòm sọ chưa cốt hóa hết, còn nằm xa nhau nhất là ở các thóp.

Ở trẻ từ 1 – 2 tuổi, các mảnh xương lẻ ở 2 bên đường giữa đã dính làm một; trẻ 2 – 3 tuổi các thóp đã biến mất và tạo thành các đường khớp liền; từ 1 – 4 tuổi các xoang xương xuất hiện dần ở một số xương (xoang trán, xoang bướm, xoang hàm trên).

Khi về già xương sọ mỏng đi, nhẹ hơn, và các khớp khâu dính sợi cũng cốt hóa thành những khớp dính xương (synostosis).

Sọ đàn ông to hơn sọ đàn bà khoảng 10%, các mào, gồ, các mấu xương thường rõ hơn. Sọ đàn bà nhẵn hơn, trán đứng hơn.

Các kích thước và đặc điểm hình thái của sọ còn thay đổi theo giống người, và là những yếu tố quan trọng để nghiên cứu về nhân chủng học.

n_002

XƯƠNG TRÁN

(os frontalis)
Xương trán nằm ở phần trước, tiếp khớp ở phía sau với xương đỉnh bởi khớp khâu vành (sutura coronalis), với cánh lớn xương bướm bởi khớp khâu bướm trán (sutura spheno-frontalis), ở phía dưới với xương gò má bởi mỏm gò má, Với xương mũi và mỏm trán xương hàm trên bởi bờ mũi.

Xương trán gồm 3 phần:

- Phần trai trán, đứng ngang, tạo nên thành trước hộp sọ.

- Phần ổ mắt và phần mũi, nằm ngang, tạo nên phần lớn trần ổ mắt và một phần trần hốc mũi.

1. Trai trán (squamosa frontalis)

Phần trai trán có hai mặt:

1.1. Măt ngoài sọ (facies externa)

- Ở giữa ngay trên gốc mũi có điểm trơ hay điểm gian mày (glabella). Phía trên điểm này dọc theo đường giữa đôi khi còn tồn tại một đường khớp dọc gọi là khớp khâu giữa trán (sutura frontaiis persistens; sutura metopica).

- Ở hai bên có cung mày (arcus superciliaris). Trên cung mày khoảng 3 cm có ụ trán (tuber frontale). Dưới cung mày là bờ trên ổ mắt (margo supraorbitalis). ở chỗ nối giữa 1/3 trong và 2/3 ngoài của bờ này có khuyết trên ổ mắt (incisura siipraorbitalis), đôi khi là lỗ trên ổ mắt (foramen supraorbitale) để động mạch trên ổ mắt và nhánh ngoài thần kinh trên ổ mắt đi qua. Đôi khi ở phía trong khuyết trên ổ mắt còn có khuyết trán (incisura frontalis) hay lỗ trán (foramen frontale) cho động mạch trên ròng rọc và các nhánh trong của thần kinh trên ổ mắt đi qua

- Phần ngoài mặt ngoài sọ của trai trán bẻ gập ra sau liên tiếp với vùng thái dương mặt thái dương (facies temporalis), ngăn cách với phần còn lại bởi đường thái dương (linea temporalis). Mặt thái dương tạo nên phần trước của hố thái dương.
- Góc dưới ngoài phần trai trán có mỏm gò má (processus zygoniaticus) tiếp khớp với mỏm trán xương gò má.

Hình Xương trán (mặt ngoài sọ)

f001v
1. Ụ trán;
2. Đường thái dương;
3. Cung mày;
4. Mỏm gò má;
5. Khuyết trên ổ mắt;
6. Bờ trên ổ mắt;
7. Gai mũi;
8. Điểm trơ, hay điểm gian mày (Glabella);

1.2. Mặt trong sọ (facies interna)

Trên đường giữa từ dưới lên trên có:

— Lỗ tịt (foramen caecum).

— Mào trán (crista frontalis), có liềm đại não bám.

— Rãnh xoang tĩnh mạch dọc trên (sulcus sinus sagittalis superioris).

Ở hai bên, mặt trong trai trán lõm sâu do thùy trán của não ấn vào

xuong-tran-nhin-trong

1 Gai mũi
2 Lỗ tịt
3 Mỏm gò má
4 Phần ổ mắt
5 mào trán
6 Hố trán
7 Rãnh xoang tĩnh mạch dọc trên

2. Phần mũi (pars nasalis)

Là phần nhô xuống phía dưới từ giữa bờ dưới của phần trai nằm trước khuyết sàng ở giữa 2 phần ổ mắt; chu vi không đều: có bờ mũi (margo nasalis) khớp với xương mũi, với mỏm trán xương hàm trên và xương lệ. Ở giữa bờ mũi có gai mũi (spina nasalis) nhô thẳng xuống vách mũi, giữa xương mũi ở phía trước và mảnh thẳng đứng của xương sàng ở phía sau.

Hai bên gai mũi là hai rãnh nhỏ góp phần tạo nên một phần trần ổ mũi.

3. Phần ổ mắt (pars orbitalis)

Là phần nằm ngang ở hai bên, gồm hai mảnh xương mỏng hình tam giác, tạo nên phần lớn trần ổ mắt; giữa 2 mảnh là một khuyết rộng gọi là khuyết sàng (incisura ethmoidalis). Mỗi mảnh của phần ổ mắt có thể tả được hai mặt

xuong-tran-nhin-duoi
1 Hố tuyến lệ
2 Khuyết trên ổ mắt
3 Gai mũi
4 Hõm ròng rọc
5 Mỏm gò má
6 Rãnh sàng trước
7 Rãnh sàng sau
8 Bán xoang trán
9 Mảnh ổ mắt

3.1. Mặt ngoài sọ hay mặt ổ mắt (facies orbitalis)

Nhẵn và lõm, giới hạn:

- Ở trước bởi bờ trên ổ mắt.

- Ở ngoài bởi một bờ gồ ghề tiếp khớp với xương gò má ở trước, với cánh lớn xương bướm ở sau.

- Ở trong bởi các diện khớp của các khớp khâu trán lệ (sutura frontolacrimalis) và khớp khâu trán sàng (sutura fronto—ethmoidalis).

- Bờ sau phần ổ mắt mỏng, tiếp khớp với bờ trước cánh nhỏ xương bướm.

- Phần trước ngoài mặt ổ mắt có hố tuyến lệ (fossa glanduỉae lacrimalis): phần trước trong có hõm ròng rọc (fovea trochlearis) cho ròng rọc của cơ chéo trên bám.

Phần dọc theo bờ trong của mặt ổ mắt, nơi tiếp khớp với mặt trên của mê đạo xương sàng có các bán xoang trán, để cùng với bán xoang của xương sàng tạo nên các xoang trán sàng. Giữa các bán xoang còn có các rãnh sàng trước và sau, khi khớp với các rãnh tương ứng của xương sàng tạo nên các ống sàng trước và sau mở vào ổ mắt bởi các lỗ sàng trước và sau (foramina ethmoidalis ant. et post), để cho các mạch thần kinh sàng trước và sau đi qua.

3.2. Mặt trong sọ (facies interna)

Có nhiều ấn lõm do các hồi não ở mặt dưới thùy trán đè lên.

4. Xoang trán (sinus frontalis)

Xương trán có hai xoang, nằm trong phần trai trán, tương ứng với đầu trong hai cung mày. Hai xoang ngăn cách nhau bởi vách gian xoang trán (septum intersinuaIe frontale). Xoang đổ vào ngách mũi giữa bởi lỗ mở xoang trán (apertura sinus frontalis).

XƯƠNG ĐỈNH

(Os parietale)
Có hai xương đỉnh, nằm ở hai bên khớp khâu dọc giữa (sutura sagittalis) thuộc phần trên của vòm sọ.

Xương đỉnh hình gần vuông, có hai mặt, bốn bờ và bốn góc.

1. MẶT TRONG SỌ (facies interna)

Liên quan với não, có nhiều rãnh để các ngành của động mạch màng não giữa nằm {sulcus arteriae meningeae raediae). Gần bờ dọc giữa có nhiều hố nhỏ để các hạt màng não nằm, Trên bờ dọc giữa có rãnh xoang tĩnh mạch dọc trên (sulcus sinus sagittalis superioris). Phía sau gần bờ chẩm có rãnh xoang tĩnh mạch sigma (sulcus sinus sigmoidei).

xuong-dinh-mat-trong-so

Xương đỉnh mặt trong sọ

Xương đỉnh mặt trong sọ

1 bờ dọc giữa
2 góc trán
3 góc bướm
4 góc chũm
5 rãnh xoang tĩnh mạch sigma
6 rãnh động mạch não giữa
7 góc chẩm
8 rãnh xoang tĩnh mạch dọc trên

2 MẶT NGOÀI SỌ (facies externa)

Lồi gọi là ụ đỉnh (tuber parietale).

Dưới ụ đỉnh có hai đường cong:

-Đường thái dương trên (linea temporalis superior) có cân thái dương bám.
-Đường thái dương dưới (lines temporalis inferior) có cơ thái dương bám

xuong-dinh-mat-ngoai-so
1. Ụ đỉnh;
2. Đường thái dương trên;
3. Đường thái dương dưới;
4. BỜ chẩm;
5. GÓC chũm;
6. BỜ trai;
7. GÓC bướm;
8. BỜ trán

3. CÁC BỜ

Có 4 bờ:

- Bờ dọc giữa (margo sagittalis) ở trên, hình răng cưa, tiếp khớp với bờ dọc giữa xương đỉnh bên đối diện. Gần bờ và ở nửa sau có lỗ đỉnh (foramen parietale).

- Bờ chẩm (margo occipitalis) Ở sau, tiếp khớp với xương chẩm, tạo nên khớp khâu lamda (sutura lambdoidea).

- Bờ trán (margo frontalis) ở trước, khớp với xương trán, tạo nên đường khớp khâu vành (sutura coronalis).

- Bờ trai (margo squamosus) Ở dưới, tiếp khớp với phần trai xương thái dương.

4. CÁC GÓC

- Góc trán (angulus frontalis) là góc trước trên.

- Góc chẩm (angulus occipitalis) là góc sau trên.

- Góc bướm (angulus sphenoidaỉis) là góc trước dưới.

- Góc chũm (angulus mastoideus) là góc sau dưới.

XƯƠNG CHẨM

(Os occipitale)
Xương chẩm nằm ở phần sau và dưới hộp sọ, một phần thuộc vòm sọ và phần lớn ở nền sọ.

Giữa xương có lỗ lớn (foramen magnum) cho hành não đi qua, chia xương chẩm thành bốn phần:

— Phần nền ở trước.

— Trai chẩm ở sau.

— Hai phần bên (hay khối bên), ở hai bên

xuong-cham-phia-ben

1. Đường gáy trên cùng;
2. Rãnh xoang tĩnh mạch ngang;
3. Đường gáy trên;
4. Mỏm tĩnh mạch cảnh;
5. Lỗ lớn;
6. ống thần kinh dưới lưỡi;
7. Đường gáy dưới.

1. PHẦN NỀN (Pars basilaris)

Phần nền có 2 mặt, ba bờ.

1.1. Mặt ngoài sọ

Mặt ngoài sọ hình vuông, cách bờ trước lỗ lớn khoảng 1cm, có củ hầu (tuberculum pharyngeum). Phía trước củ có một hố lõm chứa tuyến hạnh nhân hầu.

1.2. Mặt trong sọ

Mặt trong sọ lõm thành một rãnh rộng và nông để hành não và cầu não nằm. phần trước phần nền tạo nên dốc nền (clivus).

1.3. Các bờ

- Bờ trước khớp với thân xương bướm.

- Hai bờ bên khớp với phần trong bờ sau phần đá xương thái dương. Ở trên đường khớp mặt trong sọ có rãnh xoang đá dưới.

2. TRAI CHẨM (squamosa occipitalis)

2.1. Mặt ngoài sọ

xuong-cham-mat-ngoai-so1 ụ nhô chẩm ngoài
2 đường gáy trên cùng
3 đường gáy trên
4 mào chẩm ngoài
5 đường gáy dưới
6 lỗ lớn
7 hố lồi cầu
8 ống lồi cầu
10 khuyết tĩnh mạch cảnh
11 lồi cầu
13 củ hầu

Ở giữa xương nhô lên một ụ nhô chẩm ngoài (protuberantia occipitalis extema), có thể sờ thấy trên người sống. Dưới ụ, dọc theo đường giữa có mào chẩm ngoài (crista occipitaUs externa), hai bên có 3 đường cong nổi lên lần lượt từ trên xuông dưới là:

— Đường gáy trên cùng (linea nuchalis suprema).

— Đường gáy trên Oinea nuchalis superior).

— Đường gáy dưới (linea nuchalis inferior).

Các đường gáy là nơi bám của các cơ vùng cổ sau.

2.2. Mặt trong sọ

xuong-cham-mat-trong-so

1 hố đại não
2 mào chẩm trong
3 u nhô chẩm trong
4 rãnh xoang ngang
5 mào chẩm trong
6 lỗ lớn
7 rãnh xoang sigma
8 lỗ ống thần kinh dưới lưỡi
9 củ tĩnh mạch cảnh.
10 rãnh xoang đá dưới
12 phần nền

Tương ứng với ụ nhô chẩm ngoài, ở mặt trong sọ có ụ nhô chẩm trong (protuberantia occipitalis interna). Dưới ụ này, dọc theo đường giữa có mào chẩm trong (crista occipitalis interna). Từ ụ chẩm trong chạy ngang sang hai bên có rãnh xoang tĩnh mạch ngang (sulcus sinus transversi).

2.3. Các bờ

Có hai bờ:

— Bờ lamda (margo lamboideus): là bờ trên trai chẩm, tiếp khớp với bờ chẩm xương đỉnh. Nơi giao tiếp giữa khớp khâu dọc giữa và khớp khâu lamda là thóp sau.

— Bờ chũm (margo mastoideus): là bờ dưới hay phần dưới của bờ bên trai chẩm, khớp với mỏm chũm của phần trai thái dương, đi từ đầu ngoài rãnh xoang ngang tới mỏm cảnh.

3. PHẦN BÊN (pars lateralis) ở hai bên lỗ lớn xương chẩm.

3.1. Mặt ngoài sọ

Có lồi cầu chẩm (conđyluố occipitalis) tiếp khớp với đốt sống cổ thứ nhất. Phía sau lồi cầu có hố lồi cầu (fossa condylaris), đáy hố có ống lồi cầu (canalis condylaris), qua ống có một tĩnh mạch thông với xoang tĩnh mạch sigma ở mặt trong sọ. ở trước lồi cầu có lỗ ngoài ống thần kinh dưới lưới (eanalis hypoglossi) để thần kinh dưới lưỡi di qua. Phía sau ngoài lồi cầu có mỏm tĩnh mạch cảnh (processus jugularis). Phía trước mỏm có khuyết tĩnh mạch cảnh (incisura jugularis) hợp với khuyết tĩnh mạch cảnh của bờ sau phần đá xương thái dương tạo nên lỗ tĩnh mạch cảnh, ơ đây có mỏm trong tĩnh mạch cảnh (processus intrajugularis) chia lỗ thành hai phần.

3.2. Mặt trong sọ

Mặt trong sọ của lồi cầu là một diện lồi hình bầu dục được gọi là củ tĩnh mạch cảnh (tuberculum jugulare). Phía sau ngoài củ có khuyết cảnh và đầu tận của rãnh xoang tĩnh mạch sigma. ở đáy rãnh có lỗ trong của ống lồi cầu (cho một tinh mạch thông đi qua). Phía trước trong củ cảnh sát bờ bên lỗ lên, có lỗ trong của ống thần kinh dưới lưỡi

XƯƠNG THÁI DƯƠNG

(Os temporale)

Là xương chẵn, có một phần nhỏ ở vòm sọ nhưng chủ yếu ở nền sọ. Xương thái dương gồm 3 phần: phần trai, phần đá và phần nhĩ.

1. PHẦN TRAI (pars squamosa)

1.1 Mặt thái dương (facies temporalis) hay mặt ngoài sọ

Gồm  2 phần:

Phần trai thái dương tạo nên thành bên của hộp sọ, tiếp khớp ở trên với bờ dưới xương đỉnh, ở trước với cánh lớn xương bướm và ở sau với xương chẩm.

t000l1. Hố hàm dưới 2. Bờ đỉnh;
3. Phẩn trai; 4. Gai trên lỗ ống tai ngoài;
5. Diện sàng; 6. Khuyết đỉnh;
7. Khe đá trai; 8. Mỏm chũm;
9. Lỗ ống tai ngoài; 10. Phần nhĩ;
11. Mỏm trâm; 12. Mỏm bọc;
13. Mỏm gò má; 14. Bờ bướm;
15. củ khớp; 16. Khe nhĩ trai.

— Phần trên đứng thẳng, có các đường thái dương liên tiếp với đường thái dương của xương trán để mạc và cơ thái dương bám và có rãnh để động mạch thái dương giữa (sulcus arteriae temporalis mediae) nằm.

— Phần dưới nằm ngang, dính vào phần đá.

— Giữa hai phần có một mỏm xương chạy ra trước, gọi là mỏm gò má (processus zygomaticus). ở phía sau mỏm có hai rễ: rễ ngang và rễ thẳng.

+ Rễ ngang thuộc phần ngang trai thái dương tạo nên củ khớp (tuberculum articularis), tiếp khớp với chỏm xương hàm dưới. ở sau củ khớp có hố hàm dưới (fossa mandibularis), cũng tiếp khớp một phần với đĩa khớp của khớp thái dương hàm dưới. Phần sau hố không tiếp khớp, được tạo nên bởi phần nhĩ xương thái dương. Ranh giới giữa hai phần là khe nhĩ trai (fissura tympanosquamosa).

+ Rễ thẳng của mỏm gò má chạy thẳng ra sau ở trên lỗ ống tai ngoài.

1.2. Măt não (facies cerebralis) hay măt trong sọ

Liên quan với thùy thái dương của não và có các rãnh của động mạch màng não giữa

t000i1. Phần trai;
2. Rãnh động mạch màng não giữa;
3. Mỏm gò má;
4. vết ấn thần kinh sinh ba;
5. .Lỗ ống tai trong;
6. Hố dưới cung và lỗ ngoài cổng tiền đình;
7. Hố tĩnh mạch cảnh;
8. Mỏm trâm;
9 Rãnh xoang sigma;
10. Lỗ chũm;
11. Rãnh xoang đá trên;
12. Lồi cung.

— Bờ đỉnh (margo parietalis) là bờ trên, vát mỏng, tiếp khớp với xương đỉnh, tạo nên khớp khâu trai (sutura squamosa). Giữa bờ đỉnh của phần trai với bờ đỉnh của mỏm chũm, thuộc nền hay đáy của phần đá là một góc gọi là khuyết đỉnh (incisura parietalis).

— Bờ bướm (margo sphenoidalis) là bờ dưới dày, hình răng cưa, khớp với bờ sau cánh lớn xương bướm, tạo nên khớp khâu bướm trai (sutura sphenosquamosa).

2. PHÂN ĐÁ (pars petrosa)

Phần đá xương thái dương (còn gọi tắt là xương đá) nằm chếch ở nền sọ, giữa xương bướm và xương chẩm, hình tháp không đều, có 3 mặt, 1 đáy, 1 đỉnh và 3 bờ

t000u1. Mỏm gò má;
2. Phần nhĩ;
3. Lỗ ống tai ngoài;
4. Lỗ trâm chũm;
5. Mỏm chũm;
6. Hố tĩnh mạch cảnh;
7. Ống động mạch cảnh;
8. Bán ống vòi tai (semicanalis tubae auditoriae);
9. Củ khớp.

2.1. Đáy

Đáy quay ra ngoài và ra sau, có lỗ ống tai ngoài; ở trước dính với phần trai và phần nhĩ; ở sau dính với mỏm chũm (processus mastoideus). ở dưới đầu sau của rễ thang mỏm gò má, ngay phía trên và sau lỗ ống tai ngoài có một lõm nhỏ gọi là tiểu hõm trên ống tai (tiểu hõm trên đường thính) (foveola suprameatica), phần trứớc của tiểu hõm có gai trên lỗ ống tai (hay trên đường thính) (spina suprameatica), là mốc để vào xoang chũm. Mỏm chũm hình chũm cau, đỉnh hướng ra trước và xuống dưới.

Mặt ngoài gồ ghề, có đường nối giữa phần dá và phần trai, gọi là khe đá trai (fissura petrosquamosa). Phía sau dưới mỏm chũm có khuyết chũm (incisura mastoidea) để bụng sau cơ hai bụng bám, ở sau khuyết này có rãnh động mạch châm (suJcus arteriae occipitalis). Phía trên có lỗ chũm (foramen mastoideum) để một tĩnh mạch thông từ xoang sigma đi qua.

Mặt trong sọ của mỏm chũm có rãnh xoang sigma (sulcus sinus sigmoidei).

2.2. Đỉnh phần đá (apex partis petrosae)

Hướng chêch ra trước và vào trong về phía trung tâm nền sọ tới tận góc giữa bờ cánh lớn xương bướm và phần nền xương chẩm. Đỉnh có lỗ trước của ống động mạch cảnh và tạo nên bờ sau ngoài của lỗ rách (foramen lacerum).

2.3. Mặt trước phần đá (facies anterior partis petrosae)

Mặt trước hay trước trên ngăn cách với mặt sau trên bởi bờ trên phần đá, đều thuộc mặt trong nền sọ. Mặt trước nghiêng ra trước và xuống dưới. Từ ngoài vào trong có:

— Trần hòm nhĩ (tegmen tympani) là một thành xương rất mỏng.

— Lồi cung (eminentia arcuata) tương ứng vói vị trí của ống bán khuyên trước, thấy rõ nhất ở xương trẻ em.

— Lỗ ống thần kinh đá bé (hiatus canalis nervi petrosi minoris) và lỗ ống thần kinh đá lớn (hiatus canalis nervi petrosi majoris).

- Rãnh thần kinh đá bé (sulcus nervi peírosi minoris) và rãnh thần kinh đá lớn (sulcus nervi petrosi majoris) tiếp theo các lỗ tương ứng, chạy hưống ra trước và vào trong.

-Ấn thần kinh sinh ba (impressio trigiminalis) ở gần đỉnh, có hạch thần kinh sinh ba nằm.

2.4. Mặt sau phần đá (facies posterior partis petrosae)

Ở mặt sau có:

- Lổ ống tai trong (porus acusticus internus) thông với ống tai trong hay đường thính trong (meatus acusticus internus). Đáy ống có hai mào xương bắt chéo hình chữ thập, chia thành 4 khu: khu trên ngoài có thần kinh mặt đi qua, ba khu còn lại có các ngành của thần kinh tiền đình — ổc tai đi qua.

- Hố dưới cung (fossa subarcuata) là một ố hẹp hình một dấu ấn móng tay, ỏ gần bờ trên phần đá, phía sau ngoài lỗ ống tai trong. Trong hố có:

- Lỗ ngoài cống tiền đình (apertura externa aqueductus vestibuli) dẫn vào cống tiền đình (aquedụctus vestibuli) tới tiền đình tai trong.

2.5. Măt dưới phần đá (facies inferior partis petrosae) gồ ghề, từ trong ra ngoài có:

— Diện bám của cơ nâng màn khẩu cái và rãnh vòi tai hay nửa ống vòi tai semicanalis tubae auditoriae).

— Lỗ của ống động mạch cảnh trong (cạnalis earoticus) ở phía sau ngoài diện trên.

— Hố tĩnh mạch cảnh (fossa jụgularis) là một hố sâu ở phía sau ngoài lỗ ông động mạch cảnh, để hành trên của tĩnh mạch cảnh trong nằm.

— Mỏm trâm (processus styloideus).

— Lỗ trâm — chũm (foramen stylomastoideum) ở giữa mỏm trâm và mỏm chũm, để thần kinh VII thoát ra khỏi phần đá.

2.6. Các bờ của phần đá

— Bờ trên (margo superior partis petrosae) ở mặt trong sọ, có rãnh xoang đá trên (sulcus sinus petrosi superioris) đi từ đỉnh phần đá tới rãnh xoang sigma và có lều tiểu não bám.

— Bờ sau (margo posterior partis petrosae), tiếp giáp với xương chẩm nên gọi là bờ chẩm.

Phần trong bờ sau ở mặt trong sọ, có rãnh xoang đá dưới (sulcus sinus petrosi inferior), Phần ngoài bờ sau có khuyết tĩnh mạch cảnh (incisura jugularis) hợp với khuyết cảnh của xương chẩm, tạo thành lỗ tĩnh mạch cảnh (foramen jugularis), lỗ được chia làm hai phần bởi mỏm trong tĩnh mạch cảnh (processus intrajugularis).

— Bờ trước được chia thầnh hai phần:

+ Phần ngoài khớp với phần trai, tạo nên khe đá trai (fissura petroquamosa).

+ Phần trong khớp vối bờ sau cánh lớn xương bướm

3. PHẦN NHĨ (pars tympanica)

Là một mảnh xương cong hình lòng máng, gắn vào mặt trước dưới phần đá để tạo nên ống tai ngoài. ở phía sau, phần nhĩ hợp với mỏm chũm, tạo nên khe nhĩ chũm (fissura tympanomastoidea). Ở phía trước phần nhĩ có khe nhĩ trai (fissura tympanosquamosa) ở ngoài và khe đá nhĩ (fissura petrotympanica) ở trong.

Phần nhĩ có 2 mặt và 3 bờ:

- Mặt sau lõm, tạo nên thành trước dưới và một phần thành sau của ống tai ngoài (phần xương).

- Mặt trước tạo nên phần sau hố hàm dưới và ngăn cách với phần trước của hố bởi khe nhĩ trai (fissura tympanosquamosa).

- Bờ ngoài tự do tạo nên phần lớn bờ của lỗ ống tai ngoài.

- Bờ trên tạo nên bờ sau của khe đá nhĩ (fissura petrotympanica).

- Bờ dưới kéo dài thành một mỏm bao quanh gốc của mỏm trâm, gọi là bao mỏm trâm (vagina processus styloidei).

4. Vị trí giải phẫu

nhìn bên
nhìn dưới
nhìn trong
nhìn trong

XƯƠNG SÀNG

(Os ethmoidale)
Là một xương của phần trước nền sọ, tham gia tạo thành hốc mũi và hốc mắt.Xương sàng có 3 phần

91t8ybahfw56g5cwppatul1b

Xương sàng (sơ đồ cắt đứng ngang)

1. Mào gà;
2,3.4. Các tiểu xoang sàng;
5. Xương hàm trên;
6. Mảnh thẳng;
7.Xoăn mũi giữa;
8. Mê đạo sàng;
9. Xoăn mũi trên;
10. Mảnh rỗ (mảnh sàng);
11. Xương trán.

1. MẢNH RỖ HAY MẢNH SÀNG (lamina cribosa)

Là một mảnh xương nằm ngang có nhiều lỗ thủng lỗ chỗ gọi là lỗ rỗ hay lỗ sàng (foramina cribosa) để thần kinh khứu giác từ mũi đi qua. ở giữa mảnh sàng nhô lên một mẩu xương dày, hình tam giác, gọi là mào gà (crista galli), cho liềm đại não bám. Bờ trước của mào gà ngắn, tạo nên cánh mào gà (ala crista galli), khớp với xương trán

uvdeyfnhe0a0dl5ars1qlurx

Xương sàng nhìn từ trên xuống

1. Mào gà; 2. Khe sàng; 3. Lỗ sàng; 4. Mặt khớp lệ; 5. Mảnh sàng; 6. Mảnh ổ mắt; 7. Các lỗ sàng trước và sau các ống sàng trán trước và sau; 8. Các bán xoang sàng; 9.. Xoăn mũi giữa.

2. MẢNH THẲNG ĐỨNG (lamina perpendicularis)

Là một mảnh xương đứng thẳng, thẳng góc với mảnh sàng. Mảnh này ở dưới tạo thành một phần của vách mũi, ở trên nhô lên liên tiếp với mào gà.

3. MÊ ĐẠO SÀNG Gabyrinthus ethmoidsdis) HAY KHỐI BÊN XƯƠNG SÀNG

Gồm hai khối xương có nhiều hốc nhỏ chứa không khí là các tiểu xoang sàng (cellulae ethmoidales), được treo ở dưới hai bên mảnh sàng. Các tiểu xoang sàng được chia thành ba nhóm: trước, giữa, sau. Toàn khối được gọi là mê đạo sàng có 6 mặt

— Mặt ngoài mê đạo sàng là một mảnh xương mỏng hình tứ giác, gọi là mảnh ổ mắt (lamina orbitalis). Mảnh này tạo nên phần lớn thành trong của ổ mắt.

— Mặt trên của mê đạo sàng có hai rãnh, khi hợp với xương trán tạo ra các ống sàng trán trước và sau để mạch, thần kinh sàng trước, sàng sau đi qua. Ống mở vào mặt ổ mắt bởi các lỗ sàng trước và sau.

q2073b0dw86759k9mvabaa69 Xương sàng nhìn từ phía bên

Xương sàng (sơ đồ, nhìn từ phía bên)

1. Mào gà,
2. Mảnh sàng,
3. Mặt trên với các bán xoang sàng;
4. Mặt sau;
5. Mặt ngoài;
6. Mỏm móc;
7. Mảnh thẳng;
8. Mặt trước, phần khớp với xương lệ;
9. Mặt trước, phần khớp với mỏm trán xương hàm trên.

— Mặt trong mê đạo sàng góp phần tạo nên thành ngoài của ổ mũi. Ở đây có hai mảnh xương uốn cong xuống dưới gọi là các xoăn mũi trên (concha nasalis superior) và xoăn mũi giữa (concha nasalis media). Đôi khi còn có thêm một xoăn mũi trên cùng (concha nasalis suprema) nằm ở phía trên xoăn mũi trên. Các đường khe ở dưới các xoăn mũi gọi là các đường hay ngách mũi tương ứng. Phía trước đường mũi giữa có một đường hẹp thông với xoang trán, gọi là phễu sàng (infundibulum ethmoidale).

— Mặt trước mê đạo sàng có vài bán xoang sàng, khi tiếp khớp với xương lệ và mỏm trán xương hàm trên thì tạo thành xoang nguyên

au7bh9cfje93td1avvy8bv0b Xương sàng (sơ đồ nhìn từ phía trước)
1 mảnh thẳng
2 mỏm móc
3 xoăn mũi giữa
4 mặt khớp với xương hàm trên
5 mặt khớp với xuong lệ
6 mào gà
-Mặt dưới khớp vơi xương hàm trên có một mảnh xương không đều nhô xuống dưới, ra sau, để khớp với mỏm sàng của xoăn mũi dưới, tạo thành một phần nhỏ của thành trong xoang hàm trên, gọi là mỏm móc (processus uncinatus).

—Mặt sau mê đạo tiếp khớp với xương bướm.

Vị trí giải phẫu xương sàng nhìn theo các mặt

XƯƠNG BƯỚM

(Os sphenoidale)

Xương bướm nằm ở nền sọ. Phía trước tiếp khớp với xương trán, xương sàng. Phía sau tiếp khớp với xương chẩm. Hai bên tiếp khớp với xương thái dương. Xương có hinh con bướm gồm có: thân bướm, cánh lớn, cánh nhỏ và chân bướm.

1. THÂN BƯỚM (corpus)

Nằm ở giữa nền sọ, có hình hộp vuông, gồm 6 mặt, bên trong có hai hốc rỗng ngăn cách nhau bởi một vách xương mỏng, gọi là xoang bướm (sinus sphenoidalis).

1.1. Mặt trên thân bướm

Từ trước ra sau có 3 phần, liên quan với ba tầng sọ.

— Phần trước thuộc tầng sọ trước, là một diện phẳng hơi lồi nhẹ ở giữa, gọi là vách xương bướm (jugum sphenoidale).

Ở sau vách có rãnh trước giao thoa thị giác (sulcus prechiasmaticus), hại đầu rãnh có ống thị giác để động mạch mắt và thần kinh thị giác đi qua.

- Phần giữa là yên bướm (sella turcica) có hố tuyến yên (fossa hypophysialis) , cho tuyến yên nằm. Phần trước yên hơi lồi, gọi là củ yên (tuberculum sellae).

Bốn góc của yên bướm có 4 mỏm yên hay mỏm giường :

+ Hai mỏm yên giữa (hay mỏm giường giữa) (processus clinoideus medius), nhiều khi không có.

+ Hai mỏm-yên sau (processus clinoideus.posterior)

- Phần sau mặt trên thân bướm là một mảnh xương phẳng, chạy chếch xuống dưới, ra sau, tiếp khớp với phần nền xương chẩm, gọi là lưng yên (dorsum sellae)

xuong-buom-mat-trong-so

Hình . Xương bướm (mặt trong sọ) 

1. Mỏm sàng; 2. Thân bướm;
3. Rãnh truớc giao thoa thị giác;
4. củ yên; 5. Mỏm yẽn giữa;
6. Cánh nhỏ; 7. Cánh lớn;
8. Khe ổ mắt trên; 9. Lỗ tròn;
10. Lỗ bầu dục; 11. Lỗ gai;
12. Ách xương bướm; 13. ống thị giác;
14. Mỏm yên truớc; 15. Hố tuyến yên;
16. Mỏm yên sau; 17. Lưng yên;
18. Lưỡi buớm; 19. Phần nền xƯơng chẩm.

1.2. Mặt dưới thân bướm

Tạo nên vòm ổ mũi, dọc theo đường giữa có một mào xương gọi là mỏ bướm (rostrum sphenoidale).

1.3. Mặt trước thân bướm

Ở giữa có mào bướm (crista sphenoidalis) tiếp khớp với mảnh thẳng xương sàng. Hai bên có 2 lỗ mở xoang bướm (apertura sinus sphenoidalis).

1.4. Mặt sau thân bướm

Tiếp khớp với phần nền xương chẩm.

1.5. Mặt bên thân bướm

Liên tiếp với cánh nhỏ xương bướm ở trước và cánh lốn xương bưóm ỏ sau. Giữa hai cánh bướm có khe ổ mắt trên (fissura orbitalis superior). Đi qua khe này có dây than kinh vận nhãn, dây ròng rọc và dây giạng (vận nhãn ngoài). Nơi cánh lớn dính vào thân bướm có một rãnh dọc hơi cong chữ S gọi là rãnh động mạch cảnh (sulcus caroticus) cho động mạch cảnh trong và xoang tĩnh mạch hang nằm.

2. CÁNH LỚN XƯƠNG BƯỚM (ala major)

Gồm 4 bờ và 4 mặt:

2.1. Các bờ

Gồm có bờ trán (margo frontalis), bờ đỉnh (margo parietalis), bờ gò má (margo zygomaticus) và bờ trai (margo squamosus), tiếp khớp với các xương tương ứng.

2.2. Các mặt

— Mặt não (facies cerebralis) là mặt trong sọ, liên quan với não từ trước ra sau có ba lỗ:

+ Lỗ tròn (foramen rotundum): có dây thần kinh hàm trên đi qua.

+ Lỗ bầu dục (foramen ovale): có dây thần kinh hàm dưới đi qua.

+ Lỗ gai (foramen spinosum): có động mạch màng não giữa đi qua.

— Mặt thái dương (fascies temporalis) là mặt ngoài quay về phía hố thái dương, có một mào xương chạy dọc phía dưới, gọi là mào dưới thái dương (crista infratemporalis), ngăn cách với mặt dưới.

— Mặt hàm trên (facies maxillaris) là mặt dưới cánh lớn.

— Mặt ổ mắt (facies orbitalis) góp phần tạo thành thành ngoài ổ mắt.

3. CÁNH NHỎ XƯƠNG BƯỚM (ala minor)

Ở đầu trong cánh này có ống thị giác (canalis opticus) để động mạch mắt và dây thị giác đi qua.

Mỏm yên trước (processus clinoideus anterior) ở phía sau ống thị giác.

4. MỎM CHÂN BƯỚM (processus pterygoideus)

Có 2 mỏm chân bướm ở 2 bên:

Mỗi mỏm gồm hai mảnh xương hình chữ nhật, từ mặt dưới thân và cánh lớn xương bướm đi xuống. Mảnh xương bên ngoài là mảnh ngoài mỏm chân bướm (lamina lateralis prọcessus pterygoidei) và mảnh bên trong gọi là mảnh trong mỏm chân bướm (lamina medialis processus pterygoidei). Giữa hai mảnh có hố chân bướm (fossa pterygoidea). Ở phía trên mặt trong hố chân bướm có hố thuyền (fossa scaphoidea), có cơ căng màn hầu bám. ở phía dưới mảnh trong mọc ra một mỏm gọi là móc chân bướm (hamulus pterygoideus)

xuong-buom-nhin-tu-phia-sau-trong

Hình Xương bướm (nhìn từphía sau trong)

1. Thân xương bướm; 2. ống thị giác; 3. Khe ổ mắt trẽn; 4. Cánh nhỏ; 5. Cánh lớn; 6. Lỗ tròn; 7. Gai bướm; 8. Mỏm chân bướm ngoài; 9. Hố thuyền; 10. Hố chân bướm; 11. Mảnh ngoài mỏm chân bướm; 12. Khuyết chân bứớm; 13. Móc chân bướm; 14. ống chân bướm; 15. Cánh lưỡi cày (lá mía); 16. ống bướm lưỡi cày (lá mía); 17. Xương lưỡi cày (lá mía); 18. Mảnh trong mỏm chân bướm.

XƯƠNG XOĂN DƯỚI

Xoăn mũi dưới hay xương xoăn dưới
(Concha nasalis inferior)

xoan-mui-duoi

Xương xoăn dưới (bên phải)

. A. Mặt trong; B. Mặt ngoài.

1 Mỏm sàng 2 Mỏm lệ 3 Phần trước của bờ trên; 4. Bờ dưới; 5. Mỏm hàm trên; 6. Bờ dưới; 7 Phần trước bờ trên 8. Mỏm lệ; 9. Mỏm sàng; 10. Phần sau bờ trên.

Là một xương nhỏ, ở trong hốc mũi, dính vào thành ngoài hốc mũi. Xoăn mũi dưới có hai mặt, hai bờ và hai đầu.

- Mặt ngoài lõm, cùng với thành ngoài hốc mũi giới hạn một đường thông khí gọi là đường mũi dưới (trước đây vẫn quen gọi là ngách mũi dưới).

- Mặt trong lồi, có nhiều lỗ và nhiều rãnh cho các mạch máu nằm

- Bờ trên không đều và có thể chia làm 3 phần: phần trước khớp với mào xoăn của xương hàm trên. Phần sau khớp với mào xoăn xương khẩu cái. Phần giữa có 3 mỏm: 2 mỏm nhô lên trên là mỏm lệ (processus lacrimalis), ở phía trước khớp với xương lệ, góp phần tạo nên ống lệ tỵ , mỏm sàng (processus ethmoidalis) ở phía sau, khớp với mỏm móc của xương sàng; giữa hai mỏm trên có mỏm hàm trên, là một mảnh xương quặt xuống dưới và ra ngoài, khớp với xương hàm trên và xương khẩu cái, góp phần tạo nên thành trong xoang hàm trên.

- Bờ dưới tự do và dày hơn.

- Hai đầu xương hơi nhọn.

vi-tri-xoan-mui-duoi

Vị trí xoăn mũi dưới

XƯƠMG MŨI

(Os nasale)
Là xương nhỏ và dài, tạo nên sống mũi. Xương mũi có 2 mặt, bốn bờ:

— Mặt trước: lõm từ trên xuống dưới.

— Mặt sau: có rãnh dọc gọi là rãnh sàng (sulcus ethmoidalis), để nhánh mũi ngoài của thần kinh sàng trước đi qua.

- Bờ trên: khớp với nửa trong phần mũi xương trán.

- Bờ dưới: gắn với sụn mũi ngoài.

- Bờ ngoài: khớp với mỏm trán xương hàm trên.

- Bờ trong: hai xương mũi khớp với nhau dọc theo đường giữa

xuong-mui-trai

Hình Xương mũi trái A mặt ngoài B mặt trong 

1 bờ trên 2 lỗ mạch 3 bờ ngoài 4  rãnh thần kinh sàng trước 5 bờ trong

Vị trí giải phẫu xương mũi

vi-tri-2-xuong-mui
vi-tri-xuong-mui

XƯƠNG LÁ MÍA (XƯƠNG LƯỠI CÀY)

(Vomer)

* [Vomer tiếng Latin có nghĩa là "lưỡi cày". Song tiếng Vỉệt vẫn quen gọi theo từ dân gian là "lá mía", nên chúng tôi vẫn để cả 2 cách dịch].

Là một xương phẳng, chiếm phần sau của vách mũi. Xương có hình tứ giác, gồm hai mặt bên và bốn bờ.

Mỗi mặt bên của xương lá mía hay xương lưỡi cày có niêm mạc phủ và có rãnh của thần kinh mũi khẩu cái và động mạch bướm khẩu cái

Các bờ:

- Bờ trên: ở giữa có một rãnh là rãnh lá mía hay rãnh lưỡi cày (sulcus vomeris), để tiêp khớp với mỏ bướm; hai bên có hai mảnh xương gọi là cánh lá mía hay cánh lưỡi cày (ala vomeris);

- Bờ dưới: tiếp khớp với mào mũi, tạo nên bởi mỏm khẩu cái của xương hàm trên và phần ngang xương khẩu cái.

- Bờ sau tự do: là giới hạn trong của lỗ mũi sau.

Vị trí giải phẫu xương là mía

XƯƠNG HÀM TRÊN

(Maxilla)

Là xương chính ở mặt, cùng các xương khác tạo nên thành ổ mắt, ổ mũi, vòm miệng. Xương hàm trên gồm một thân và bốn mỏm.

1. THÂN XƯƠNG HÀM TRÊN (corpus maxillae)

Thân xương hình tháp ba mặt, nền quay vào trong tạo nên thành ngoài ổ mũi (còn gọi là mặt mũi), đỉnh quay ra ngoài khớp với xương gò má. Trong thân có một hốc xương lớn gọi là xoang hàm trên (sinus maxillaris)

xuong-ham-tren-mat-ngoai
Hình 27.24. Xương hàm trên (mặt ngoài)

1. Mặt ổ mắt; 2. Rãnh dưới ổ mắt và Lỗ dướỉ ổ mắt; 3. Mỏm gò má; 4. Mặt sau; 5. Mặt trước; 6. Hố nanh; 7. Gai mũi trước; 8. Khuyết mũi; 9. Mỏm trán; 10. Rãnh lệ.

1.1. Mặt ổ mắt (facies orbitaks)

Mặt ổ mắt nhẵn, hình tam giác, tạo thành phần lớn nền ổ mắt. Phía sau có rãnh dưới ổ mắt (sulcus infraorbitalis), phía trước rãnh này liên tiếp với ống dưới ổ mắt (canaỉis irifraorbitalis), để dây thần kinh dưới ổ mắt đi qua.

1.2. Mặt trước (facies anterior)

Ngăn cách với mặt ổ mắt bởi bờ dưới ổ mắt (margo infraorbitalis). Ở dưới bờ này có lỗ dưới ổ mắt (foramen infraorbitale), là nơi tận cùng của ống dưới ổ mắt, có dãy thần kinh dưới ổ mắt thoát ra. Ngang mức răng nanh và ở phía trên răng này có hố nanh (fossa canina). Phía trong của mặt trước có khuyết mũi (incisura nasali8), dưới khuyết mũi có gai mũi trước (spina nasalis anterior)

1.3 Măt dưới thái dương (facies infratemporalis)

Phía sau lồi gọi là ụ hàm trên (tuber maxillare). Trên ụ này có 4 – 5 lỗ để dây thần kinh huyệt răng sau đi qua, gọi là các lỗ ổ răng hay huyệt răng (foramina alveolaria), thông ở phía dưới với các ống ổ răng hay huyệt răng (canales alveolares).

1.4. Mặt mũi (facies nasalis)

Ở mặt này có rãnh lệ (sulcus lacrimalis) đi từ ổ mắt xuống. Phía trước rãnh lệ có mào xoăn (crista conchalis). Phía sau rãnh có lỗ há xoang hàm trên (hiatus maxillare). Phần sau lỗ xoang hàm trên có diện xương gồ ghề để tiếp khớp với xương khẩu cái. Ở giữa diện có một rãnh chạy từ trên xuống gọi là rãnh khẩu cái lớn (sulcus palatinus major)

xuong-ham-tren-mat-trong

Hình 27.26. Xương hàm trên (mặt trong)

1. Mỏm trán; 2. Các mào sàng và mào xoăn; 3 Gai mũi trước; 4. Ống răng cửa (ống răng cắt); 5. Mỏm khẩu cái; 6. Rãnh khẩu cái lớn: 7. Xoang hàm trẽn; 8. Rãnh lệ.

2. MỎM TRÁN (processus frontalis)

Là một mỏm từ góc trước trong của thân xương chạy lên trên để tiếp khớp với xương trán. Mặt ngoài của mỏm trán có mào lệ trước (crista lacrimalis anterior). Bờ sau có khuyết lệ (incisura lacrimaHs). ở mặt trong mỏm trán có mào sàng (crista ethmoidatis).

3. MỎM GÒ MÁ (processus zygomaticus)

Tương ứng với đỉnh của thân xương hình tháp, phía trên có một diện gồ ghề để khớp với xương gò má.

4. MỎM KHẨU CÁI (processus palatinus)

Là một mỏm nằm ngang, tách ra từ phần dưới mặt mũi của thân xương hàm trên và cùng với mỏm khẩu cái của xương bên.đốì diện tạo thành vòm miệng. Mỏm khẩu cái có hai mặt: mặt trên là nền ổ mũi và mặt dưới là vòm miệng.

Ở đường giữa phía trước vòm miệng và nền mũi có lỗ răng cửa (foramen incisivum) và ống răng cửa (canalis incisivus), hình chữ Y, đê động mạch khẩu cái trước và thần kinh bướm khẩu cái đi qua (Hình 27.27).

Ở mặt trên, phía sau gai mũi có mào mũi (crista nasalis)
xuong-ham-tren-mat-duoi

Hinh 27.27. Xương hàm trên (mặt dưới)

1. Mỏm gò má; 2. Mỏm khẩu cái; 3. Lỗ dưới ổ mắt; 4. Lỗ ống răng cửa; 5. Các ô răng (hay huyệt răng).

5. MỎM Ổ RĂNG HAY MỎM HUYỆT RĂNG (processus alveolaris)

Mỏm ổ răng hay mỏm huyệt răng của xương hàm trên quay xuống dưới. Trên mỏm có những ổ răng hay huyệt răng (alveoli dentales) xếp thành hình cung gọi là cung ổ răng hay cung huyệt răng (arcus alveolaris). Giữa các huyệt răng có các vách gian ổ răng (hay vách gian huyệt răng), (septa interalveolaris). Ổ hay huyệt của những răng hàm lớn thì rộng và có những vách chia thành những ổ nhỏ cho các chân răng, gọi là vách gian rễ (septa interradicularia).

Ở mặt ngoài mỏm ô răng có những chỗ lồi tương ứng với các ô răng gọi là vách ổ răng ( Ouga alveolaris).

Vị trí giải phẫu

giai phau xuong ham tren

XƯƠNG KHẨU CÁI

(Os palatinum)

Là một xương chẵn hình chữ L, có hai mảnh: mảnh thẳng và mảnh ngang.

1. MẢNH THẲNG (lamina perpendicularis)

Có hai mặt:

- Mặt ngoài hay mặt mũi (facies nasalis) tạo nên phần sau thành ngoài của ổ mũi. Có hai mào: mào sàng (crista ethmoidalis) tiếp khớp với xương xoăn giữa ; mào xoăn (crista conchalis) tiếp khớp với xương xoăn dưới

- Mặt trong hay mặt hàm trên (facies maxillaris) lắp vào xương hàm trên, ở giữa có rãnh khẩu cái lớn (sulcus palatinus major), hợp với rãnh tương ứng của xương hàm trên tạo thành ống khẩu cái lớn.

- Bờ trên của mảnh thẳng có 2 mỏm gọi là mỏm ổ mắt và mỏm bướm, giữa hai mỏm là khuyết bướm khẩu cái (incisura sphenopalatina).

xuong-khau-cai

Hình 27.28. Xương khẩu cái A. Mặt trong hay mặt hàm trên; B. Mặt ngoài hay mặt ổ mũi; a. Mảnh thẳng; b. Mảnh ngang

1. Mỏm ổ mắt; 2. Mào sàng; 3. Mào xoăn; 4. Mào mũi; 5. Khuyết bướm – khẩu cái; 6. Mỏm bướm; 7. Gai mũi sau; 8. Mỏm tháp; 9. Lỗ khẩu cái lớn;10. Lỗ khẩu cái bé; 11. Rãnh khẩu cái lớn; 12. Mặt hàm trên.

2. MẢNH NGANG (lamina horizontalis)

Hình hơi vuông, gồm 2 mặt:

- Mặt mũi (facies nasalis) quay lên trên, nhẵn, tạo nên nền ổ mũi.

- Mặt khẩu cái (facies palatina) là phần sau của vòm miệng. Bờ trước của mảnh ngang xương khẩu cái khớp với bờ sau mỏm khẩu cái xương hàm trên. Bờ trong tiếp khớp với bờ trong của mảnh ngang xương khẩu cái bên đối diện. Bờ sau lõm ra sau, là bờ tự do. Khi hai mảnh ngang của hai xương khẩu cái tiêp khớp với nhau thì tạo nên ở tận cùng sau của đường giữa một cái gai, gọi là gai mũi sau (spina nasalis posterior).

3. Vị trí Giải phẫu

nhin sau
nhin duoi
nhìn trong

XƯƠNG GÒ MÁ

(Os zygomaticum)

Là xương nhô ra nhất ở hai bên của mặt. Xương gò má có 3 mặt, hai mỏm và một diện gồ ghề để khớp với mỏm gò má của xương hàm trên.

1. MẶT NGOÀI (facies lateralis)

Có cơ bám da mặt bám. Ở mặt này có lỗ gò má mặt (foramen zygomaticofaciale).

2. MẶT THÁI DƯƠNG (facies temporalis)

Liên quan với hố thái dương. Trên mặt này có lỗ gò má thái dương (foramen zygomaticotemporale).

3. MẶT Ổ MẮT (facies orbitalis)

Góp phần tạo nên thành ngoài ổ mắt, có lỗ gò má ổ mắt (foramen zygomaticoorbitale) (Hình 27.29).

xuong-go-ma

Hình 27.29. Xương gò má A. Mặt ngoài; B. Mặt trong.

1. Mỏm trán; 2. Mỏm thái dương; 3. Lỗ gò má mặt; 4. Mặt ngoài; 5. Mặt ổ mắt; 6. Lỗ gò má ổ mắt; 7. Thần kinh gò má; 8. Mặt thái dương; 9. Nhánh gò má thái dương;10. Lỗ gò má thái dương;11. Nhánh gò má ổ mắt.

4. CÁC MỎM

— Mỏm thái dương (processus temporalis): hướng ra sau, tiếp khớp vói mỏm gò má của xương thái dương.

— Mỏm trán (processus frontalis): hướng lên trên, tiếp khớp với mỏm gò má của xương trán.

5. Vị trí giải phẫu

nhìn thẳng
Nhìn bên

XƯƠNG HÀM DƯỚI.

(Mandibula)

Là xương di động duy nhất của khối xương mặt, khớp với hố hàm dưới của xương thái dương, tạo nên khớp thái dương – hàm dưới. Xương hàm dưói gồm một thân hình móng ngựa và ỏ mỗi đầu của thân có một ngành hàm đi lên gần như thẳng đứng.

1. THÂN XƯƠNG HÀM DƯỚI (corpus mandibulae)

Gồm hai mặt;

1.1. Mặt ngoài (Hình 27.30)

- Ở giữa và dưới có 1 ụ nhô ra gọi là ụ nhô cằm (protuberantia mentalis).

- Dọc theo đường giữa (nơi hai mảnh thân xương dính vào nhau) gọi là khớp dính xương hàm dưới (symphysis mandibulae).

Hai bên có 2 đường chéo (linea obliqua) chạy chếch lên trên, ra sau, hướng tối bờ trước của ngành hàm.

— Trên đường chéo, ngang mức ráng hàm bé thứ hai có lỗ cằm (foramen mentale), để mạch máu và thần kinh cằm đi qua.

xuong-ham-duoi-mat-ngoai

Hình 27.30. Xương hàm dưới (mặt ngoài).

1. Mỏm lồi cầu; 2. Chỏm hàm dưới; 3. Cổ hàm dưới; 4. Góc hàm; 5. Bờ dưới; 6. Lỗ cằm; 7. Củ cằm: 8. Ụ nhô cằm; 9. Bờ ổ răng (Bờ huyệt răng); 10. Đường chéo; 11. Mỏm vẹt; 12. Khuyết hàm dưới.

1.2. Mặt trong (Hình 27.31)

— Ở giữa có 4 mấu nhỏ: hai trên, hai dưới gọi là gai cằm (spina mentalis). Cơ cằm lưỡi bám vào gai trên, còn cơ cằm móng bám vào gai dưới.

xuong-ham-duoi-mat-trong

Hình 27.31. Xương hàm dưới (mặt trong)

1. Mỏm vẹt; 2. Lưỡi hàm dưởì; 3. Đường hàm móng; 4. Hố dưỏi lưỡi; 5. Gai cằm; 6. Hố cơ hai bụng; 7. Hố dưới hàm; 8. Rãnh hàm móng; 9. Mỏm lồi cầu; 10. Lỗ hàm dưới; 11. Khuyết hàm.

- Hai bên có đường hàm móng (line mylohyoldea). Đường hàm móng là đường chéo, chạy chếch lên trên, ra sau.

— Trên đường hàm móng có hõm dưới lưỡi (fovea sublingualis), để tuyến dưới lưỡi nằm.

— Dưới đường hàm móng, ngang mức răng hàm bé thứ hai có hõm dưới hàm (fovea submandibularis), để tuyến dưới hàm nằm.

— Bờ trên của thân xương hình cung có nhiều huyệt răng hay ô răng (alveoli dentales), gọi là cung huyệt răng hay ổ răng (arcus alveolaris).

— Bờ dưới: ở hai bên đường giữa có hố cơ hai bụng (fossa digastrica), để bụng trước của cơ hai bụng bám.

Ở gần góc hàm (giữa thân hàm dưới và ngành hàm dưới), bờ dưới có một khuyết nhỏ để động mạch mặt đi qua lên mặt.

2. NGÀNH HÀM DƯỚl (ramus mandibulae)

Ngành hàm dưới liên tiếp với thân, đi chếch lên trên và hơi ra sau, có góc hàm dưới (angulus mandibulae), là nơi bờ dưới của thân gặp bờ sau của ngành.

Ngành hàm dưới có 2 mặt, 4 bờ:

2.1. Mặt ngoài

Có nhiều gờ để cơ cắn bám.

2.2. Mặt trong

Ở giữa có lỗ hàm dưới (foramen mandibulae). Lỗ này thông vói ống hàm dưới (canalis mandibulae), có mạch và thần kinh răng dưới đi qua.

Ở phía trên sau của lỗ hàm dưới có một mẩu xương nhô ra che lỗ gọi là lưỡi hàm dưới (lingula mandubulae) hay gai Spix. Lưỡi hàm dưới là mốc để gây tê khi nhổ răng hàm dưới. Từ lưỡi hàm dưới có một rãnh đi xuống dưới, ra trước gọi là rãnh hàm móng (sulcus mylohyoideus), để mạch thần kinh hàm móng đi qua. ở sau và dưới rãnh có cơ chân bướm trong bám.

2.3. Các bờ

- Bờ trước sắc, liên tiếp ở dưới với đường chéo của thân xương hàm dưới.

- Bờ sau dày và tròn, gặp bờ dưới của xương ở góc hàm dưới.

- Bờ trên lõm ỏ giữa tạo thành khuyết hàm dưới (incisura mandibulae), có mạch máu và than kinh cắn đi qua.

Phía trước khuyết hàm dưới là mỏm vẹt (processus coronoideus). Phía sau khuyết là mỏm lồi cầu processus condylaris), gồm có chỏm hàm dưới (caput mandibulae) ở trên, và cổ hàm dưới (collum mandibulae) ở dưới.

- Bờ dưới: ngành hàm dưới liên tiếp với bờ dưới của thân xương hàm dưới.

3. Vị trí giải phẫu

nhìn thẳng
nhìn bên

XƯƠNG MÓNG

(Os hyoideum)
Là một xương nhỏ, hình móng ngựa, nằm ở cổ, trên sụn giáp của thanh quản. Xương móng gồm một thân và các sừng lớn, nhỏ.

hyoideum

Hình 27.32. Xương móng 1. Sừng lớn; 2. Sừng bé; 3. Thân xương móng.

1. THÂN XƯƠNG MÓNG (corpus ossis hyoidei)

Thân xương có hai mặt, hai bờ và hai đầu:

— Mặt trước: có gờ ngang, chia làm hai phần; mỗi phần có một gờ dọ chia làm hai diện bên để các cơ hai bụng, cơ trâm móng, cơ hàm móng, cơ cằm móng, cơ móng lưỡi bám.

— Mặt sau có màng giáp móng dính vào.

— Bờ trên và bờ dưới không có gì đặc biệt.

— Đầu thân xương móng liên tiếp với các sừng.

2. CÁC SỪNG

- Sừng lớn (cornu majus): hướng ra ngoài và ra sau.

- Sừng nhỏ (cornu minus): hướng lên trên.

Speak Your Mind

*