Cơ quan tiền đình ốc tai

Bài 42 Cơ quan tiền đình ốc tai (Organum vestirbulocochleare)
giai-phau-tai-thumb

Giải phẫu cơ quan thính giác

Tiến đình ốc tai là một cơ quan có cấu trúc phức tạp để thực hiện 2 chức năng là nhận cảm âm thanh (nghe) và chiều hướng thăng bằng. Cơ quan tiền đình ốc tai từ cũ trong y học cũng như từ dân gian vẫn quen gọi chung là tai. Song từ tai thường chỉ chú trọng tới chức năng nghe và xem nhẹ chức năng thăng bằng. Từ tai tiếng Latin là auris, tiếng Hy Lạp là ous, otos, do đó nghiên cứu về tai và các bệnh của tai được gọi là otologia.
Cụm từ “cơ quan tiền đình – ốc tai” theo danh pháp giải phẫu Quốc tế ngày nay nói lên được cả hai mặt cấu trúc và chức năng của cơ quan đó: “Tiền đình” có chức năng thăng bằng và “ốc tai” có chức năng nghe.

Cơ quan tiền đình ốc tai gồm 3 phần:

– Tai ngoài:(xem phần giải phẫu tai ngoài) gồm có loa tai và ống tai ngoài ngăn cách với tai giữa bởi màng nhĩ, có nhiệm vụ thu nhận và dẫn truyển sóng âm thanh trong không khí đến màng nhĩ.

– Tai giữa (xem phần giải phẫu tai giữa)gồm có hòm nhĩ, màng nhĩ, chuỗi xương con và các cơ, để tiếp nhận và dẫn truyền âm thanh về mặt cơ học từ màng nhĩ vào tai trong, đồng thời có vai trò điều chỉnh biên độ áp lực của âm thanh. Ngoài ra tai giữa còn có các bộ phận phụ thuộc, đó là các xoang chũm và vòi tai, để cân bằng áp lực trong hòm nhĩ với không khí bên ngoài.

– Tai trong (xem bài phần phẫu tai trong)gồm các cấu trúc phức tạp là mê đạo xương chứa ngoại dịch, và mê đạo màng, nằm trong mê đạo xương chứa nội dịch và các cơ quan nhận cảm quan trọng chuyển các rung động cơ học thành các xung động thần kinh về thính giác, và cảm giác chiều hướng thăng bằng.

giai phau tai

≡ Mục lục

TAI NGOÀI (Auris externus)

1. LOA TAI (auricula)

1.1. Hình thể ngoài

loataiLoa tai hình một vành loa có những chỗ lồi lõm giúp ta thu nhận âm thanh từ mọi phía, mà không cần cử động tai hoặc xoay đầu về phía tiếng động như ở động vật.

Loa tai có hai mặt:

1.1.1 Mặt ngoài loa tai:

Lõm không đều, hướng nhẹ ra trước và có nhiều chỗ lồi, chỗ lõm

– Ở giữa đáy loa tai là một hố lõm sâu hình vỏ ốc, gọi là xoăn tai (concha auricularia). Xoăn tai được chia làm hai phần ngăn cách nhau bởi một gờ nhỏ là trụ gờ xoắn (hay gờ luân). Phần ở trên gờ là hõm xoăn tai (cymba conchalis), và phần ở dưới gờ là ổ xoăn tai (cavitas conchalis).

– Xung quanh loa tai có 4 gờ.

loa tai

1. Gờ xoắn (gờ luân); 2. Các trụ đối xoắn (đối luân); 3. Hố tam giác; 4. Hõm xoăn tai; 5. Trụ gò xoắn (trụ gờ luân); 6. Khuyết trước; 7. Bình tai; 8. Lỗ tai ngoài; 9. Khuyết gian bình; 10. Gai xoắn (củ Darwin); 11. Rãnh thuyền; 12. ổ xoăn tai; 13. Gờ đối xoắn (đối luân); 14. Đối bình tai; 15. Dái tai.

Gờ xoắn hay xoắn ốc (helix) (trước đây còn gọi là gờ luân): là một gờ chạy vòng theo chu vi của loa tai, đầu trước của gờ bắt đầu từ xoăn tai, gọi là trụ xoắn (trụ gờ luân) (crus helicis). Nơi gờ xoắn đổi hướng để chạy xuống dưới có một mấu nhỏ nhô lên gọi là gai xoắn (gai luân) (spina helicis), di tích của đỉnh loa tai (apex auricularis) ở động vật có vú, nên trước đây còn gọi là củ Darwin. Phần dưới của gò gọi là đuôi xoắn (đuôi gờ luân) (cauda helicis).

Gờ đối xoắn (hay gờ đồi luân (antihelix): là gò chạy song song ỏ phía trước và trong gờ xoắn. Phần trên gò đồi xoắn chia thành hai trụ đối xoắn (crura antihelicis); giữa hai trụ là hố tam giác (fossa triangularis).

Rãnh dài chạy dọc giữa gồ xoắn và gờ đối xoắn gọi là thuyền hay rãnh thuyền (scapha).
• Bình tai (hay bình nhĩ) (tragus): là một gờ nhỏ, chán ỏ phía trước xoần tai.

• Gờ đối bình (antitragus): nằm đối diện với bình tai và cách bình tai bởi khuyết gian bình (incisura intertragica). *

– Ở dưới tất cả là dái tai (lobulus aricularis): là một nếp mô liên kết và mỡ được phủ bởi da.

1.1.2. Mặt trong loa tai:

là mặt áp vào sọ và hướng ra sau, có các vêt lồi lõm ngược chiều với mặt ngoài, như lồi xoăn tai (eminentia conchae), lồi thuyền (eminentia scaphae), lồi hố tam giác (eminetia fossae triangularis), hố đôi xoắn (fossa antiheìicis), khe đối bình xoắn (fissura antitragohelicina), rãnh trụ xoắn (sulcus cruris helicis).

Mặt trong tai giới hạn với mặt bên của sọ bởi một rãnh gọi là rãnh tai sau (sulcus auricularis posterior).

1.2. Cấu tạo

Loa tai được cấu tạo bởi da. sụn, dây chằng và cơ.

1.2.1. Da:

Phủ loa tai mỏng, dính chặt vào mặt ngoài của sụn hơn là mặt trong. Có nhiều tuyến bã, nhiều nhất ở xoăn tai và rãnh thuyền.

Da của loa tai liên tiếp với da phủ ống tai ngoài.

1.2.2. Sụn tai (cartilago auricularis)

Sụn tai là một mảnh sụn sợi đàn hồi, hình lồi lõm tạo nên những chỗ lồi, lõm như ỏ Ioa tai. Chĩ khác là ở dái tai không có sụn, chỉ có mô sợi và mô mỡ. Sụn ở bình tai liên tiếp với sụn của ống tai ngoài. Sụn tai có tác dụng tạo và giữ hình dáng của loa tai.

sụn loa tai

Sụn loa tai (nhìn mặt trước ngoài)
1. Gờ xoắn (gờ luân); 2. Các trụ đối xoắn (đối luân); 3. Hố tam giác; 4. Xương thái dương; 5. Trụ xoắn 6. Bình tai; 7. Gai xoắn (gai luân); 8. Rãnh thuyền; 9. Gờ đối xoắn (đối luân); 10. Xoăn tai; 11. Khe đỏi bình xoắn; 12. Đuôi gờ xoắn (gờ luân); 13. Khuyết gian bình; 14. Sụn ống tai ngoải; 15. Mỏm chũm.

sun loa tai mat sau

Sụn loa tai mặt sau trong
1. Hố đối xoắn (đối luân); 2. Lồi thuyền; 3. Rãnh ngang đối xoắn (đối luân); 4. Đụôi gờ xoắn (gờ luân); 5. Khe đối bình xoắn; 6. Lổi hố tam giác; 7. Gai lồi xoăn; 8. Lổi xoăn tai; 9. Rãnh trụ xoắn (trụ ỉuân); 10. Sun bình tai; 11. Sụn ống tai ngoài; 12. Eo của sụn tai.

1.2.3. Các dây chằng của loa tai (ligamenta auricularis): gồm hai loại:

– Các dây chằng ngoại lai: cố định loa tai vào mặt bên của đầu. Gồm 3 dây chằng:

+ Dây chăng tai trước (ligamentum auricularis anterius): đi từ bình tai và gờ xoắn tới rễ của mỏm gò má xương thái dương.

+ Dây chằng tai sau (lig. auricularis posterius): đi từ mặt sau xoăn tai tới mặt ngoài mỏm chũm.

+ Dây chằng tai trên (lig. auricularis superius).

— Các dây chằng nội tại: là những dải sợi căng giữa các phần khác nhau của sụn, đế giữ nguyên dạng vành tai; (như những dây chằng đi từ gờ xoắn tới binh tai, và căng giữa đuôi của gờ xoắn tới gò đồi xoắn).

1.2.4. Các cơ của loa tai (musculi auricularis): gồm hai loại.

— Các cơ ngoại lai: gồm 3 Cơ: tai trên, cơ tai trước và cơ tai sau (xem bài các cơ đầu – mặt — cổ).

— Các cơ nội tại: là những cơ nhỏ, đi từ gờ này tối gò kia, hoặc từ phần này tới phần kia của loa tai.

Gồm có 8 cơ:

+ Cơ xoắn lớn (M. helicis major).

+ Cở xoắn bé (M. helicis minor)

+ Cơ binh tai (M. tragicus)

+ Cơ đối bình tai (M. antitragicus).

+ Cơ tháp loa tai (M. pyramidalis auricularis).

+ Cơ ngang loa tai (M. transversus auricularis).

+ Cơ chéo loa tai (M. obliquus auricularis).

Nhìn chung các cơ tai kém phát triển, nên loa tai không cử động được.

2. ỐNG TAI NGOÀI (meatus acusticus externus)

2.1. Hình thể

Ống tai ngoài đi từ xoăn tai đến màng nhĩ. Do màng nhĩ nằm chếch xuống dưới và vào trong, nên thành trước dưới của ống tai ngoài dài hơn thành trên sau (thành trên sau dài khoảng 25mm, thành trước dưới tới 30 — 31mm).

Ống tai ngoài cong hình S, lúc đầu hướng vào trong, ra trước, và lên trên, rồi hơi cong ra sau, và cuốì cùng lại tiếp tục hướng vào trong, ra trưốc, nhưng lại hơi xuống dưới. Vi vậy, khi thăm khám màng nhĩ, ở người lớn ta phải kéo Ioa tai lên trên ra ngoài và ra sau, để giảm bớt độ cong.

Lòng ống có hình bầu dục, nhưng không đểu.Đường kính lớn nhất ở lỗ tai ngoài hướng xuống dưới và ra sau, còn ở đầu trong của ống thì gần như nằm ngang. Có hai chỗ hẹp: chỗ hẹp thứ nhất nằm ở nơi tận hết của phần sụn, chỗ hẹp thứ hai ở phần xương, cách đáy xoắn tai khoảng 20mm.

Ống tai ngoài mở ra ngoài ở đáy xoăn tai bởi lỗ ống tai ngoài (porus acusticus externus).

2.2. Liên quan

— Phía trước: Ống tai ngoài liên quan với mỏm lồi Cầu của xương hàm dưới. Lách giữa phần sụn của Ống tai ngoài và mỏm lồi Cầu có một phần nhỏ của tuyến mang tai. Do vậy, một cú đấm vào Cằm làm cho lồi Cầu xương hàm dưới trật ra sau, có thể làm vỡ ống tai ngoài.

— Phía trên: phần xương ống tai ngoài liên quan với tầng sọ giữa.

— Phía sau: Ông tai ngoài ngăn cách với các xoang chũm bởi một lớp xương mỏng.

2.3. Cấu tạo

ong tai ngoaiMột phần ba ngoài ống tai ngoài được Cấu tạo bỏi sụn Ống tai (cartilago meatus acustici), gọi là ống tai ngoài sụn (meatus acusticus externus cartilagineus), dài khoảng 8mm và liên tiếp Ở ngoài với sụn loa tai. Ở thành trước, sụn có hai chỗ khuyết, khuyết sụn Ống tai (incisura cartilaginis meatus acustici), làm cho loa tai dễ di động, và làm cho việc nong rộng Ông tai ngoài trỏ nên dễ dàng hơn.

Hai phần ba trong ống tai ngoài được tạo nên bởi xương, các thành trước, dưới, và hầu hết thành sau là do phần nhĩ xương thái dương, còn thành sau trên là do phần trai thái dương. Đầu trong của phần xương ông tai ngoài có một rãnh vòng (khuyết ở phần trên) để bờ chu vi màng nhĩ bám vào, gọi là rãnh màng nhĩ (sulcus tympanicus).

Ống tai ngoài dược phủ bồi da, liên tiếp với da phủ loa tai và da phủ mặt ngoài màng nhĩ. Da phủ phần sụn có lông và các tuyến tiết dáy tai. Da dính chặt vào sụn và xương, nên bị nhọt ở ống tai ngoài sẽ rất đau.

2.4. Mạch máu và thần kinh ống tai ngoài

Động mach: ống tai ngoài được cấp máu bởi

– Động mạch tai sau (A. auricularis posterior): nhánh của động mạch cảnh ngoài.

– Động mạch tai sâu (A. auricularis profunda): nhánh của động mạch hàm trên.

– Các nhánh tai trước (rami auriculares anteriores) của động mạch thái dương nông (A. temporalis superíicialis).

Tĩnh mạch: máu từ ống tai ngoài dược dẫn lưu về tĩnh mạch tĩnh mạch hàm trên và đám rối tĩnh mạch chân bướm.

Bach huyết: bạch huyết từ ống tai ngoài đổ vào các hạch mang tai, các hạch cổ sâu trên.

Thần kinh: cảm giác cho ống tai ngoài do:

– Thần kinh ống tai ngoài (N. meatus acustici exterm): nhánh của thần kinh tai thái dương (N. auriculo tcmporalis), thuộc thần kinh hàm dưới (N. mandibularis) chi phối cho thành trước và thành trên.

– Nhánh loa tai (ramus auricularis) của thần kinh lang thang(N.vagus): cảm giác cho thành sau và thành dưới ống tai ngoài.

TAI GIỮA (auris media hoặc middle ear)

Tai giữa gồm có hòm nhĩ, là một khoang chứa không khí, nằm trong phần đá của xương thái dương, có chứa các xương con, thông với hang chũm qua một đường vào hang và thông với tỵ hầu qua vòi tai
Niêm mạc phủ hòm nhĩ liên tiếp với niêm mạc của tỵ hầu. Vi vậy, bệnh lý của tai, mũi, họng liên quan rất mật thiết với nhau.

1. HÒM NHĨ (cavitas tympanica)

ong tai ngoai- tai giua

Click để xem ảnh lớn

Hòm nhĩ gồm hai phần:

– Phần đối diện với màng nhĩ là hòm nhĩ thật sự.

– Phần trên màng nhĩ là ngách thượng nhĩ (recessus epitympanicus).

Hòm nhĩ ví như một cái trống thu ngắn, rất hẹp, nằm theo một mặt phẳng đứng dọc, chếch từ trước ra sau. Đường kính thẳng đứng và đường kính trước sau khỏang 15mm. Đường kính ngang (giữa 2 màng trống) ở phần trên là 6mm, phần dưới 4mm, ngang mức với trung tâm màng nhĩ là 2mm.

Các thành của hòm nhĩ gồm .

 

 

Cac thanh hom nhi

Các thành của hòm nhĩ

1 lồi ống thần kinh mặt; 2. lồi nhô ống bán khuyẽn ngoài; 3. Đường vào hang chũm; 4. lồi tháp; 5 thừng nhĩ; 6. cửa sổ ốc tai; 7. Hô tĩnh mạch cảnh; 8. Thẩn kinh nhĩ; 9. Gò nhô; 10. ống động mạch cảnh 11 Lỗ vòi tai; 12. Ống cơ căng màng nhĩ; 13. cửa sổ tiền đình; 14. Thành trần (mái) của hỏm nhĩ.

1.1. Thành trên hay thành trần (paries tegmentalịs)

hom nhi

Click để xem ảnh lớn

Còn gọi là trần hòm nhĩ (mái hòm nhĩ) (tegmen tympani), là một mảnh xương mỏng thuộc phần đá xương thái dương; ở đây có đưòng khớp trai đá. Trần hòm nhĩ ngăn cách ngách thượng nhĩ của hõm nhĩ với hố sọ giữa. Nhiễm trùng của tai giữa có thể Ian truyền qua trần hõm nhĩ tới màng não.

1.2. Thành dưới hay thành tĩnh mạch cảnh (pearies jugularis)

Còn gọi là sàn hòm nhĩ, là một mảnh xương hẹp, mỏng, ngăn cách hòm nhĩ với hố tĩnh mạch cảnh; khi mảnh xương này bị khuyết thì hòm nhĩ chỉ ngăn cách với hành trên tĩnh mạch cảnh bởi một màng niêm mạc và mô xơ. Sàn thấp hơn thành dưới ống tai ngoài.

1.3. Thành trong hay thành mê đạo (paries labyrinthicus)

Thành mê đạo hòm nhĩ

Thành mê đạo hòm nhĩ

1. Hang chũm; 2. Cảc tế bào chũm; 3. Thẩn kinh mặt; 4. Cơ bàn đạp; 5. Thừng nhĩ; 6. cửa sổ ốc tai 7. Tinh mạch cảnh trong; 8. Gò nhô với rãnh nhĩ; 9. Động mạch cảnh trong; 10. Vòi tai; 11. Thần kinh đá lớn; 12. Cơ căng màng nhĩ; 13. Gân cơ căng màng nhĩ; 14. Xương bàn đạp trên cửa sổ tiền đình. 15. lồi ống thần kinh mặt; 16. lồi ống bán khuyên ngoài; 17. Lồi tháp và gân cơ bàn đạp.

Ở thành này có:

Gò nhô (promontorium): là một lồi tròn, do vòng thứ nhất của ốc tai tạo nên. Trên mặt gò nhô có những rãnh nhỏ, rãnh gò nhô (sulcus promontori), chò các nhánh của đám rối TK hòm nhĩ (plexus tympanicus) thuộc thần kinh hòm nhĩ (N. tympanicus), nhánh của thần kinh lưỡi hầu nằm.

— Cửa sổ ốc tai (fenestra cochlea) hay cửa sổ tròn nằm trong hố cửa sổ ốc tai (fossula fenestrae cochleae) ở phía sau gò nhô, được đậy bởi màng nhĩ phụ (membrana tympani secundaria)

— Cửa sổ tiền đình (fenestra vestibuli) hay cửa sổ bầu dục nằm trong hố cửa sổ tiền đình (fossula fenestrae vestibuli) ở phía sau trên gò nhô, trục lớn nằm ngang, có nền xương bàn đạp lắp vào. Cửa sổ tiền đình dài 3mm, cao 1,5mm trục lớn chếch xuống dưới, ra sau và ra ngoài.

Hõm nằm giữa cửa sổ tiền đình và cửa sổ ốc tai gọi là xoang hòm nhĩ (sinus tympani), liên quan với đoạn bóng của ống bán khuyên sau. Xoang hòm nhĩ ngăn cách với cửa sổ ốc tai bởi một mào xương gọi là mào cửa sổ ốc tai (crista fenestrae cochleae).

thanh trong

Thành trong (click để xem ảnh lớn)

— Lồi nhô ống thần kinh mặt (prominentia canalis facialis): do đoạn hai của ống thần kinh mặt tạo nên, chạy từ trước ra sau ở trên cửa sổ tiền đình, rồi uốn cong xuống thành chũm của hòm nhĩ.

Lớp xương bọc thần kinh mặt ỗ đây có thế rất mỏng, nên khi viêm tai giữa, thần kinh mặt có thể bị tổn thương.

— Lồi nhô ống bán khuyên ngoài (prominentia canalis semicircularis lateralis): nằm phía trên lồi ống thần kinh mặt, chạy cong từ thành mê đạo sang thành chũm.

— Mỏm hình ốc (processus cochleariformis): ở phía trước trên gò nhô, có gân cơ căng màng nhĩ thoát ra ở đỉnh mỏm.

1.4. Thành sau hay thành chũm (paries mastoideus)

Rộng ở trên, hẹp ở dưới, có:

— Đường vào hang (còn gọi là ống thông hang) (aditus ad antrum) chiếm 2/5 trên, mở ra từ một lỗ lốn, không đều hình tam giác, đỉnh quay xuống dưới, cao khoảng 4 — 4,5mm thông ngách thượng nhĩ với phần trên của hang chũm ở phía sau.

— Lồi nhô ống bán khuyên ngoài, từ mặt mê đạo chuyển sang, nằm ngang, và lồi nhô ống thần kinh mặt liên tiếp từ mặt mê đạo, quặt thẳng xuống dưới tạo nên khuỷu của ống thần kinh mặt. Cả hai đều ở phía sau đường vào hang chũm. Trong thành chũm, ống thần kinh mặt chạy xuống dưói, ra ngoài và ra sau.

— Lồi tháp (eminentia pyramidalis): thấp hơn, nằm ở phía trưóc Ioi ống thần kinh mặt, dưới lỗ ông thông hang; có gân cơ bàn đạp thoát ra ở đỉnh tháp để vào hõm nhĩ.*

— Lỗ (mở vào) hõm nhĩ của tiểu ống thừng nhĩ (apertura tympanica canaliculi chordae tympani): nằm ở phía ngoài lồi tháp, có thừng nhĩ chui qua đế vào hòm nhĩ.

1.5. Thành trước hay thành động mạch cảnh (paries caroticus)

Rộng ở trên hẹp ở dưới.

Thành này có ống cơ căng màng nhĩ ở trên, và lỗ hòm nhĩ của vòi tai (ostium tympanicum tubae auditoriae) ở dưới. Dưới lỗ hõm nhĩ của vòi tai là một vách xương mỏng, ngăn cách hòm nhĩ với động mạch cảnh trong. Vì vậy, khi viêm tai giữa có thể bị đau tai theo nhịp đập của động mạch

1.6. Thành ngoài còn gọi là thành màng (paries membranaceus)

thanh ngoai

Thành ngoài (click để xem ảnh lớn)

Vì chủ yếu được tạo bởi màng nhĩ, ngăn cách hòm nhĩ với ống tai ngoài. Bờ chu vi của màng nhĩ gắn vào rãnh nhĩ (sulcus tympanicus) bởi một vòng sụn xơ (anulus fibrocartilagineus). Rãnh nhĩ là một rãnh vòng không khép kín, thiếu ở phần trên, gọi là khuyết nhĩ (incisura tympanica). ở góc giữa thành màng và thành động mạch cảnh có tiểu ống thừng nhĩ (canaliculus chordae tympani), để thần kinh thừng nhĩ từ hòm nhĩ thoát qua

Thành ngoài hòm nhĩ

Thành ngoài hòm nhĩ

1. Vòi tai; 2. Nếp búa trước; 3. Thừng nhĩ; 4. Ngách thượng nhĩ; 5. Dây chằng búa trên; 6. Khớp đe búa;7. Trụ ngắn xương đe; 8. Dây chằng đe sau; 9. Hang chũm; 10. Gân cơ căng màng nhĩ; 11. Vòng sợi sụn 12. Màng nhĩ; 13. Cán búa; 14. Trụ dài xương đe; 15. Nếp bủa sau; 16. Thần kinh mặt.

Về giải phẫu ngoại khoa, hòm nhĩ được chia thành 3 phần:

– Phần trên phần căng màng nhĩ là ngách thượng nhĩ. Phần này nằm trên chỗ hẹp là đường nối giữa lồi ống thần kinh mặt ở trong với bờ dưới của tường thượng nhĩ.

– Phần giữa hay trung nhĩ là phần đối diện với phần căng của màng nhĩ.

– Phần dưới hay hạ nhĩ là phần thấp nhất ở dưới đường ngang qua bờ dưới ống tai ngoài.

2. MÀNG NHĨ (membrana tympanica)

2.1. Vị trí và kích thước

mang nhi phai

Màng nhĩ là một màng mỏng, màu xám bóng, hơi trong, hình bầu dục rộng ở trên hơn ở dưới. Màng nhĩ nằm chếch tạo với thành dưới ống tai ngoài một góc khoảng hơn 55 độ. [Theo Trần Trọng Uyên Minh (L.A.TS 2003) trên người Việt Nam góc này là 48,680 + 9,38]. Đường kính lớn nhất của màng nhĩ chếch xuống dưới, ra ngoài, đo được khoảng 9 – 10mm.

Đường kính ngắn nhất là đường kính ngang (trước sau) khoảng 8 S 9mm. [Cũng theo Trần Trọng Uyên Minh (2003) trên người Việt Nam, các đường kính này lần lượt là: 8,65 + 0,85mm và 7,72 + 0,52mm].

Màng nhĩ có hai phần:

— Phần mỏng hay phần chùng (pars flaccida): là phần phụ, ở trên, nhỏ, mỏng và mềm, tương ứng với khuyết nhĩ, dính trực tiếp vào phần đá xương thái dương.

— Phần dày hay phần căng (pars tensa): là phần chính ở dưới, lớn hơn, dày và chắc hơn, bờ chu vi dày lên thành một vòng sợi sụn (anulus fibrocartilagineus) dính vào rãnh nhĩ (sulcus tympanicus).

Giới hạn giữa hai phần của màng nhĩ là hai nếp: nếp búa trước (plica mallearis anLerior) và nếp búa sau (plica mallearis posterior), đi từ đầu trước và đầu sau khuyết nhĩ tới mỏm ngoài xương búa.

Mặt ngoài màng nhĩ lõm ở giữa do cán xương búa kéo vào trong, gọi là rốn màng nhĩ (umbo membranae tympanicae). [Độ lõm rốn màng nhĩ ở người Việt Nam là 1,79 + 0,40mm].

Khi soi màng nhĩ ta thấv được hình cán xương búa in trên màng nhĩ, gọi là văn búa (stria mallearis). Vân búa đi từ rốn màng nhĩ tới lồi nhô búa (crominentia mallearis), là bóng của mỏm ngoài xương búa.

Một đưòng kẻ chếch xuống dưới và ra sau dọc theo cán búa, và một đường thứ hai vuông góc vỏi đưòng trên ố rốn màng nhĩ, chia màng nhĩ thành 4 khu không đểu nhau. Hai khu trên, đặc biệt là khu sau trên liên quan với các xương con và với thừng nhĩ. Khu trước dưới có một vết sáng hình nón do đèn chiếu khí soi màng nhĩ, gọi là nón sáng mà đỉnh ở rốn màng nhĩ. Khu sau dưới là nơi thường rạch màng nhĩ để tháo mủ trong hòm nhĩ khi viêm tai giữa có mủ.

2.2. Cấu tạo

Phần căng màng nhĩ dày 0,1mm, được cấu tạo bởi 4 lớp, dày 131mm từ ngoài vào trong là:

— Lớp da (stratum cutaneum): mỏng, liên tiếp với da của ổng tai ngoài, dày 30mm. Hai lớp sợi: dày 100mm:

+ Lớp sợi tia (stratum radiatum) một đầu bám vào vòng sụn sợi, đầu kia bám vào cán búa.

+ Lớp sợi vòng (stratum circulare) nằm dưới lớp sợi tia, gắn cán búa vàọ màng nhĩ.

ở vùng rìa màng nhĩ còn có các sợi ngắn là các sợi bán nguyệt. Phía trong sợi bán nguyệt có các sợi parabol.

+ Lớp niêm mạc (stratum mucosum): liên tiếp với niêm mạc hòm nhĩ. dàv 1 mm Phần trùng của màng nhĩ không có các lớp sợi.

2.3. Mạch máu và thần kinh màng nhĩ

Động mach:

Màng nhĩ được cấp máu bởi:

— Nhánh tai sâu của động mạch hàm trên. Nhánh này phân nhánh ngay dưối da của màng nhĩ.

— Động mạch trâm — chũm: nhánh của động mạch tai sau.

— Động mạch hõm nhĩ trước (A. tympanica anterior): nhánh của động mạch hàm trên. Hai động mạch này cấp máu cho mặt niêm mạc của màng nhĩ.

Tĩnh mach:

— Các tĩnh mạch nông đổ vào tĩnh mạch cảnh ngoài.

— Các tĩnh mạch sâu, một phần đổ vào xoang tĩnh mạch ngang và các tĩnh mạch màng cứng, một phần đổ vào đám rối tĩnh mạch của vòi tai.

Thần kinh (cảm giác):

— Mặt da của màng nhĩ có thần kinh tai thái dương, nhánh của thần kinh hàm dưới và nhánh tai của thần kinh lang thang.

— Mặt niêm mạc có thần kinh hòm nhĩ (nervus tympanicus), nhánh của thần kinh lưỡi hầu.

3. CHUỖI XƯƠNG NHỎ CỦA TAI

Trong hòm nhĩ có 3 xương con liên tiếp nhau: xương búa, xương đe và xương bàn đạp. Xương búa dính vào màng nhĩ, nền xương bàn đạp lắp vào cửa sổ tiền đình, xương đe nằm giữa xương búa và xương bàn đạp. Các xương khớp vói nhau lại được giữ bồi các dây chằng và có các cơ vận động

Các xương nhỏ ở tai

Các xương nhỏ ở tai
A. Xương búa; 1. Chỏm; 2. cổ; 3. Mỏm ngoài; 4. Mỏm trước; 5. Cán;
B. Xương đe; 6. Thân; 7. Trụ ngắn;8.Trụ dài; 9. Mỏm thấu kính;
C. Xương bàn đạp; 10. Chỏm; 11. Trụ trước; 12. Trụ sau; 13. Nền.

3.1. Các xương nhỏ của tai (ossicula auditoria)

3.1.1. Xương búa (malleus):

Hình thể :trông giống cái búa dài 8 — 9mm.

xuong buaXương búa gồm:

— Chỏm búa (caput mallei): là đầu trên của xương, nằm trong ngách thượng nhĩ, hình Cầu, tiếp khớp Ở phíạ sau vởi xương đe.

– Cổ búa (collum mallei): là chỗ thắt hẹp, ngay bên dưới chỏm búa, Ở mặt trong cổ búa có thừng nhĩ bắt chéo.

— Cán búa (manubrium mallei) nằm áp vào mặt trong màng nhĩ, cán búa hương xuống dưới, vàọ trong và ra sau. Đầu cán có cơ căng màng nhĩ bám.

– Mỏm trước (processus anterior): tách ra ở ngay dưới cổ búa, dài hướng ra trước, có dây chằng búa trước bám.

— Mỏm ngoài (processus lateralis): ngắn, hình nón, cũng tách ra ngay dưới cổ búa, có dây chằng búa ngoài bám.

3.1.2. Xương đe (incus):

xuong de

Hình thể : trông giống cái đe [Ở người Việt Nam, xương đe dài 6,21 + 0,41mm, rộng 4,94 + 0,35mm].

Xương đe gồm:

– Thân đe (corpus incudis), có mặt khớp ở trước để khớp với chỏm búa. Từ thản tách ra 2 trụ.

– Trụ ngắn (crus breve): hình tròn, hướng ra sau, có dây chằng đe sau bám.

– Trụ dài (crus longum): chay xuông dưới, gần như thắng đứng. Đầu dưới trụ cong vào trong và tận hết bởi mỏm thấu kính (processus lenticularis) để tiếp khớp với xương bàn đạp.

3.1.3. Xương bàn đạp (stapes):

xuong ban dap

– Chỏm bàn đạp (caput stapedis): hướng ra ngoài, có một lõm ơ trên đê khớp với mỏm thấu kính xương de.

– Trụ trước (crus anterius) và trụ sau (crus posterius): nối chỏm với nền xương bàn đạp.

– Nền bàn đạp (basis stapedis): là một mảnh xương dẹt, hình bầu dục lắp vào cửa sổ tiền đình

3.2. Các khớp xương nhỏ của tai (articulationes ossicuIorum auditoriorum).

– Khớp đe búa (articulatio incudomallearis): là một khớp hoạt dịch do chỏm xương búa tiếp khớp với mặt khớp của mặt trước thân xương đe.

— Khớp đe bàn đạp (articulatio incudostapedialis): khớp giữa mỏm bèo xương đe vói chỏm xương bàn đạp.

— Khớp dính sợi hay khớp dây chẳng nhĩ bàn đạp (syndesmosis tympanostapediaJis): do nền xương bàn đạp lắp vào cửa sổ tiền đình, bởi một vòng sợi bao quanh nền xương bàn đạp và dính vối cốt mạc của cửa sổ tiền đình.

3.3. Các dây chằng xương nhỏ của tai (ligamenta ossiculorum auditoriorum)

cac xuong nhoCác xương tai được giữ vào các thành của hõm nhĩ bởi các dây chằng.

— Xương búa được cố định vào hòm nhĩ bởi dây chằng búa trên (lig. mallei superius), dây chằng búa trước (lig. mallei anterius) và dây chằng búa ngoài (lig. mallei lateralis).

— Xương đe được cố định vào hố đe bởi dây chằng đe sau (lig. incudis posterius), vào trần ngách thượng nhĩ bởi dây chằng đe trên(lig. incudis superius).

— Bờ chu vi của nền xương bàn đạp được gắn vàọ bờ cửa sổ tiền đình bởi một vòng sợi đàn hồi, gọi là dây chằng vòng bàn đạp (lig. anulare stapediale).

3.4. Các cơ xương nhỏ của tai (musculi ossiculorum auditorium)

Có hai cơ:

3.4.1. Cơ căng màng nhĩ (musculus tensor tympani) (còn gọi là cơ búa)

— Nguyên ủy: bám vào phần sụn của vòi tai, vào phần kề bên của cánh lớn xương bướm và thành ống cơ.

— Đường đi và bám tận: cơ chạy trong một ống xương, hướng ra sau, rồi thoát khỏi ống này để bám tận vào cán xương búa. Cơ búa dài 2cm.

— Động tác: khi cơ co cán búa bị kéo vào trong, làm căng màng nhĩ. Cán búa bị co vào trong làm chỏm búa quay ra ngoài, kéo thân xương đe ra ngoài, ấn xương bàn đạp vào cửa sổ tiền đình, làm tăng áp lực ngoại địch. Vi vậy, cơ co màng nhĩ là cơ nghe tiếng nhỏ và trầm.

– Thần kinh chi phôi: một nhánh của thần kinh chân bướm trong thuộc thần kinh hàm dưới.

3.4.2. Cơ bàn đạp (musculus stapedius):

– Là cơ bám xương nhỏ nhất, dài 7mm

— Nguyên ủy: bám vào thành của một hốc nằm trong gò tháp trên thành chũm của hòm tai.

— Bám tận: gân cơ thoát ra ồ đỉnh lồi tháp, đi ra trưốc và bám tận vào chỏm xương bàn đạp.

— Động tác: khi cơ co, xương bàn đạp bị kéo nghiêng khỏi cửa sổ tiền đình, làm giảm áp lực ngoại dịch: Khi chỏm bàn đạp bi kéo sẽ đẩy trụ dài xương đe làm thân xương đe quay vào trong, kéo chỏm xương búa quay vào trong và đẩy cán búa ra ngoài, làm cho màng nhĩ đỡ căng. Do vậy, cơ bàn đạp là cơ của tiếng bổng và góp phần vào việc bảo vệ thần kinh tiền đình ốc tai.

Thần kinh chi phốì: một nhánh của thần kinh mặt.

4. HANG CHŨM (antrum mastoideum)

voi tai hang chum

Là một xoang lớn nhất ở trong xương chũm, thuộc vào tai giữa, vì thông với hòm nhĩ. Hang có 6 thành liên quan như sau

— Thành trước: ở trên có lỗ để vào của đưòng vào hang, thông hang chũm với ngách thượng nhĩ của hòm nhĩ.

Ở dưới liên quan với đoạn xuống của ống thần kinh mặt, nên phâu thuật nạo vét hang trong viêm xoang chũm cần thận trọng đế khỏi tổn thương thần kinh.

— Thành sau: liên quan với xoang tĩnh mạch sigma và thông với một sô tế bào hay tiểu xoang chũm (cellulae mastoideae).

— Thành trên: hay mái của hang chũm, liên quan với hố não sau.

— Thành dưới hay sàn của hang chũm: có nhiều lỗ nhỏ thông với các tế bào hay tiểu xoang chũm.

— Thành trong: liên quan với ống bán khuyên sau.

— Thành ngoài của hang chũm: được tạo nên bởi phần sau ống tai ngoài của mặt ngoài xương thái dương. Thành ngoài dày hay mỏng tùy theo từng cá thể, trung bình dày 12- 15mm.

Hình đối chiếu của hang chũm lên mặt ngoài mỏm chũm là một hinh vuông diện tích 1-2 cm. ở phia sau ống tai ngoài, các cạnh như sau: cạnh trên là một đường ngang trước sau, cách bờ trên lỗ tai ngoài 4mm. Cạnh dưới là đường song song với cạnh trên, các cạnh trên 10 mm, cạnh trước là đường tiếp tuyến với bờ sau lỗ tai ngoài và vuông góc với cạnh trên. Cạnh sau song song với cạnh trước, ở phía sau cạnh trước 10mm.

Hang chũm

Hang chũm

Hang chũm và các tế bào chũm :A. Nhìn từ mặt ngoài mỏm chũm; B. cắt đứng ngang qua mỏm chũm;

1. Hình chiếu của xoang tĩnh mạch sigma; 2. Hang chũm; 3. ống tai ngoài; 4. Thần kinh mặt; 5. Não; 6. Các tẽ bào chũm nông; 7. Các tế bào dưới hang chũm; 8. Các tế bào thuộc nhóm đỉnh; 9. Các tế bảo chũm sâu; 10. Tiểu não; 11. Xoang tĩnh mạch đá trên.

Hình chiếu xoang tĩnh mạch signa

Hình chiếu xoang tĩnh mạch signa

Hình chiếu của xoang tĩnh mạch sigma, hang chũm và thần kinh mặt 1. Thần kinh mặt; 2. Hang chũm; 3 Xoang tĩnh mạch sigma.

5. VÒI TAI (tuba auditiva)

5.1. Mô tả

Vòi tai là một ống thông hòm tai với tỵ hầu, có tác dụng làm cân bằng áp lực không khí ngoài trời và không khí trong hòm tai. Song, qua đó nhiễm trùng cũng có thể lan truyền từ tỵ hầu tới tai giữa.

Vòi tai bắt đầu từ lỗ hòm nhĩ của vòi tai (ở thành động mạch cảnh của hòm nhĩ), đi chếch xuống dưới, vào trong và ra trước tạo với mặt phang đứng dọc một góc 130 — 140° và vói mặt phẳng ngang một góc 30 — 40°, rồi tận hết bởi một lỗ ở thành bên của tỵ hầu, gọi là lỗ hầu của vòi tai (ostium pharyngeum tubae auditoriae). Vòi dài 37mm .

Vòi tai

Vòi tai (nhìn trên thiết đổ cắt đứng chếch ngang qua đẩu – mặt, dọc theo vòi tai)

1. Phần sụn cùa vòi tai; 2. Eo vòi tai; 3. Lỗ hòm nhĩ của vòi tai; 4. Hòm tai (hay hõm nhĩ); 5. Hang chũm; 6. Thần kinh mặt; 7. cơ nâng màn hầu; 8. Khoang hầu bên; 9. Cơ trâm hầu; 10. Động mạch cảnh trong; 11. Cơ trâm móng; 12. Xoang bướm; 13. Lỗ hầu của vòi tai; 14. Khẩu cái mềm; 15. cơ khít hầu trên.

 

5.2. Cấu tạo

Vòi tai gồm hai phần;

— Phần xương (pars ossea): chiếm 1/3 chiều dài của nó, dài khoảng 12mm, nằm dưới ống cơ căng màng nhĩ và cách cơ này bởi vách ống cơ vòi, bắt đầu từ một lỗ ở thành động mạch cảnh của hòm nhĩ, thu hẹp dần, và tận hết tại góc giữa phần trai và phần đá của xương thái dương, bằng cách liên tiếp với phần sụn. Chỗ hẹp nhất ở điểm nối giữa phần xương và phần sụn gọi là eo vòi (isthmus tubae auditoriae).

* [Phần xương của vòi tai có liên quan như sau:

+ Mặt trong và trên có ống cơ căng màng nhĩ chạy doc theo phía trên và liên quan với ống đông mạch cảnh, ngàn cách bởi một mảnh xương mỏng.

+ Mặt ngoài mỏng có đường khớp đả trai, liên quan với hố hàm dướikhớp thái dương hàm dưới.

+ Mặt dưới: Thành dưói thì dàỵ Liên quan với đáy của một khoang ỏ giữa lồi cầu xương hàm dưới và cân hầu. Đây là chỗ bám của cân liên chân bưóm mà đầu sau cân là dây chằng bướm hàm bám vào gai bướm].

voi tai

Vòi tai trẻ em ngắn hơn , rộng hơn , nằm ngang hơn nên yếu tố nhiễm khuẩn dễ xâm nhập từ mũi lên tai qua vòi tai

— Phần sụn (pars cartilaginea): chiếm 2/3 chiều dài của vòi; nằm ở dưới rãnh vòi tai (sulcus tuba auditivae), trong mô liên kết lấp đầy khe giữa cánh bướm lớn và phần đá xương thái dương, dài khoảng 24mm và được tạo nên bởi một máng sụn hình tam giác uôn cong, gọi là sụn vòi tai (cartilago tubae auditoriae). Sụn uốn cong theo một góc nhị diện, mở ra ngoài và xuống dưới, tạo bỏi 2 mảnh: mảnh sụn trong (lamina cartilaginis medialis) (tạo nên thành trên trong của vòi) và mảnh sụn ngoài (lamina cartilaginis lateralis) (tạo nên thành ngoài của vòi). Phần còn lại không có sụn, được thay thế bằng một màng sỢi nối giữa hai mảnh, gọi là mảnh màng (lamina membranacea), tạo nên thành dưới của vòi tai ở đoạn này.

Phần sụn loe rộng dần ở dưới, và đổ vào tỵ hầu bởi lỗ hầu của vòi tai, ở phía sau xoăn mũi dưới.

Vòi tai được phủ bởi một lớp niêm mạc (tunica mucosa) liên tiếp vói niêm mạc hầu qua lỗ hầu của vòi tai, và với niêm mạc hòm nhĩ qua lỗ hòm nhĩ của vòi tai.

Niêm mạc vòi tai chứa nhiều tuyến vòi (erlandulae tubariae).

Vòi tai chỉ được mở ra khi ta nuốt hoặc ngáp dưới tác động của cơ căng màn hầu (M. tensor veli palatini) và cơ vòi hầu (M. salpingopharyngeus), làm cho áp lực khí tròi ở hòm nhĩ và tai ngoài cân bằng.

Ở trẻ sơ sinh, vòi tai rất thông, ở eo không hẹp nên tai giữa dễ bị nhiễm trùng cấp tính do lan truyền từ hầu (viêm họng) đi lên.

n_093

5.3. Mạch máu và thần kinh vòi tai

Động mạch: các động mạch cấp máu cho vòi tai gồm:

– Động mạch hầu lên nhánh của động mạch cảnh ngoài.

— Động mạch màng não giữa và động mạch ống chân bướm, thuộc các nhánh của động mạch hàm trên.

Tĩnh mach: máu từ vòi tai đổ vê đám rối tĩnh mach chân bướm.

Thần kinh: gồm các nhánh của đám rốì nhĩ và nhánh hầu của hạch chân bướm khẩu cái.

6. NIÊM MẠC HÒM NHĨ (tunica mucosa cavitatis tympanicae)

Niêm mạc hòm nhĩ phủ các thành hòm nhĩ, các xương tai, các cơ và các thần kinh nằm trong hòm nhĩ. Niêm mạc hòm nhĩ tạo nên lớp trong của màng nhĩ, và liên tiếp với niêm mạc của hầu qua vòi tai, với niêm mạc của hang chũm và của các tế bào chũm qua đường vào hang. Niêm mạc tạo nên nhiều nếp mạch, căng từ các thành hòm nhĩ tới các xương tai, trong số đó có những nếp từ trần hòm nhĩ tới chỏm xương búa, tạo nên nếp búa trên (plica mallearis superior), nếp búa sau (plica mallearis posterior), tới thân xương đe tạo nên nếp đe (plica incudialis), phủ xương bàn đạp, tạo nên nếp bàn đạp (plica stapedialis) phủ thừng nhĩ, tạo nên nếp thừng nhĩ (plica chordae tympani).

Các nếp niêm mạc nói trên ngăn cách nhau và giới hạn nền các ngách màng nhĩ (recessus membranae tympanicae).

Nhìn chung niêm mạc hòm tai có màu tái nhạt, mỏng và ít mạch máu.

7. MẠCH MÁU VÀ THẦN KINH HÒM NHĨ

7.1.Độngmạch

Cấp máu cho hòm nhĩ có:

— Động mạch hòm nhĩ trước (A. tvmpanica anterior), nhánh của động mạch hàm trên, cấp máu cho màng nhĩ.

— Động mạch trâm chũm (A. stylomastoidea), nhánh của động mạch tai sau, cấp máu cho phần sau hòm nhĩ và các tế bào chũm.

— Nhánh đá (ramus petrosus) của động mạch màng não giữa (A. meningea media).

— Động mạch hòm nhĩ trên (A. tympanica superior), nhánh của động mạch màng não giữa.

— Động mạch hòm nhĩ dưới (A. tympanica inferior), nhánh của động mạch hầu lên (A. pharyngea ascendens).

— Một nhánh của động mạch ống chân bướm (A. canalis pterygoidei), thuộc động mạch hàm trên.

— Một nhánh của động mạch cảnh hòm nhĩ (a. caroticotympanica), nhánh của động mạch cảnh trong.

7.2. Tĩnh mạch

Máu từ hòm nhĩ được dẫn về đám rối tĩnh mạch chân bướm (plexus pterygoideus) và xoang tĩnh mạch đá tren(sinus petrosus superior).

7.3. Bạch huyết

Các mạch bạch huyết từ niêm mạc của hòm nhĩ và hang chũm chạy tới hạch mang tai hoặc các hạch cổ sâu trên.

7.4. Thần kinh

Gồm các nhánh từ đám rối (TK) hòm nhĩ (plexus tympanicus) được cấu tạo bơi thần kinh hòm nhĩ (nervus tympanicus), nhánh của thần kinh lưỡi hầu, và các thần kinh cảnh hòm nhĩ (nervi caroticotympanici) từ đám rối cảnh trong (plexus caroticus internus) của thần kinh giao cảm.

TAI TRONG (Auris interna)

Tai trong gồm nhiều hốc xương cấu tạo phức tạp, nằm trong phần đá của xương thái dương, gọi là mê đạo xương; trong đó có chứa đựng một hệ thông các ống dẫn và túi màng cấu tạo tinh vi và phức tạp hơn, gọi là mê đạo màng. Mê đạo màng nhỏ hơn nhiều, nàm trong mê đạo xương, khoảng giữa mê đạo màng và mê đạo xương chứa đầy một chất dịch, gọi là ngoại dịch. Trong mê đạo màng cũng chứa dịch, gọi là nội dịch.

1. MÊ ĐẠO XƯƠNG (labyrinthus osseus)

Mê đạo xương là hệ thống những hốc xương, nằm trong phần đá xương thái dương, được phủ bởi màng xương, có chứa ngoại dịch và mê đạo màng. Mê đạo xương gồm có ba phần: tiền đình xương, các ống bán khuyên xương và ốc tai xương.

Mê đạo xương

Mê đạo xương

1.Ống bán khuyên trước 2. Trụ xương chung; 3. ống bán khuyên sau; 4. ống bán khuyên ngoài;5. Bóng xương sau; 6. cửa sổ ốc tai; 7. Xương bàn đap; 8, Đáy ốc tai; 9. Tiến đình; 10. đình ốc tai;11.Thần kinh tiền đình ốc – tai; 12. Bóng xương trước; 13. Bóng xương ngoài.

 

1.1. Tiền đình xương (vestibulum)

Tiến đình là phần trung tám của mê đạo xương, nằm ở phía trong hòm nhĩ, sau ốc tai và trước các ống bán khuyên xương. Tiền đình xương có hình trứng, dẹt ngang. Các đường kính trên — dưới và trước — sau khoảng 5mm. Đường kính ngang 3mm. Tiền đình xương chứa soan nang và cầu nang của tiền đinh màng, có 6 mặt:

1.1.2. Mặt trong:

Liên quan với 1/3 sau đáy ống tai trong. Có 3 hố lõm gọi là các ngách để cho các thành phần của tiển đình màng nằm, và tiêp nhận những sợi thần kinh từ đáy ống tai trong qua.

— Ngách cầu (recessus sphericus): ở phần trước mặt trong có cầu nang nằm.

— Ngách bầu dục (recessus ellipticus): ở phần sau trên mặt trong có soan nang nằm.

— Ngách ốc tai (recessus cochlearis): ở phần sau  dưới mặt trong, dưới ngách bầu dục, và ngăn cách với ngách này bởi một gò xương chếch, gọi là mào tiền đình (crista vestibuli). Đầu trước của mào nhô ra một mẩu xương, gọi là tháp tiền đình (pyramis vestibuli).

Trên bề mặt các ngách, có những đám lỗ nhỏ để các sợi thần kinh đi qua, gọi là các vết rỗ (hay vết sàng) (maculae cribrosae).

Như vậy có 3 vết rỗ:

• Vếi rỗ giữa (macula cribrosa media): ở ngách cầu.

• Vết rỗ trên (macula cribrosa superior): ỏ ngách bầu dục.

• Vết rỗ dưới (macula cribrosa inferior): ở ngách ốc tai.

Ở dưới ngách bầu dục có lỗ cống tiền đình (aqueductus vestibuli).

1.1.3. Mặt trước:

Ở trên liên quan với đoạn một của thần kinh mặt và ở dưới thông với tầng tiền đình của ốc tai bởi một lỗ hình bầu dục.

1.1.4. Mặt trên và mặt sau:

Có 5 lỗ của các ống bán khuyên.

1.1.5. Mặt dưới:

Mặt dưới là một mảnh xương mỏng, là nguyên ủy của mảnh xoắn ốc của ốc tai.

1.2. Các ống bán khuyên xương (canales semicirculares ossei)

Các ống bán khuyên xương là những ống hình trụ, đường kính khoảng 0,8mm, cong hình móng ngựa, nằm ở mặt trên và sau của tiền đình, mở vào tiền đình bởi hai đầu, gọi là các trụ xương (crura ossea).

— Một đầu phình gọi là bóng xương (ampullae osseae). Trụ có bóng xương gọi là trụ bóng xương (crura ossea ampullaria). Các bóng xương có cùng tên với các ông bán khuyên tương ứng.

— Đầu không phình của ống bán khuyên ngoài mỏ trực tiếp vào tiền đình, gọi là trụ xương đơn (crus osseum simplex).

— Đầu không phình của ông bán khuyên trước và ống bán khuyên sau hợp lại với nhau rồi mới mở vào tiền đình, gọi là trụ xương chung (crus osseum commune).

Ba ống bán khuyên nằm theo 3 bình diện thẳng góc với nhau.

1.2.1. Ống bán khuyên trước (canalis semicircularis anterior):

Dài 15 ~ 20mm, nằm trên mặt phẳng thẳng đứng, vuông góc với trục phần đá xương thái dương.

Đầu ngoài là bóng xương trước (ampulla ossea anterior), mở vào phần trên ngoài của tiền đình. Đầu đối diện tạo nên trụ xương chung (crus osseum commune) cùng với ông bán khuyên sau đổ vào phần trong tiền đình.

1.2.2. Ống bán khuyên sau (canalis semicircularis posterior):

Dài 18 — 22mm, nằm trên mặt phẳng thẳng đứng, song song với trục phần đá xương thái dương. Đầu dưới là bóng xương sau (ampulla ossea posterior), mỏ vào phần dưới tiền đình. Đầu trên cùng với trụ xương của ống bán khuyên trước tạo nên trụ xương chung.

1.2.3. Ống bán khuyên ngoài (canalis semicircularis lateralis):

Dài 12 — 15mm, nằm trên một mặt phẳng nằm ngang và cong ra ngoài, bóng xương ngoài (ampulla ossea lateralis) mở vào phía trên góc ngoài tiền đình, ngay đầu bóng trước, ỏ phía trên cửa sổ tiền đình. Đầu kia là trụ xương đơn (crus osseum simplex) mở vào tiền đình ngay dưới lỗ của trụ xương chung.

1.3. Ốc tai xương (cochlea)

Có hình một con ốc, xoán 2 vòng rưỡi, nằm ỏ phía trước tiền đình, có đáy ốc (basis cochleae) và vòm ốc (cupula cochleae). Từ đáy tới đỉnh đo được 5mm và chiều ngang đáy là 9mm.

Vòm hướng ra phía trước ngoài

Một phần vòng đáy của ốc tai đẩy thành trong hòm nhĩ lồi lên, tạo nên gò nhô. Nhìn chung đáy ốc tai nằm đôi diện vối đáy ông tai trong, Về cấu tạo, ốc tai gồm có trụ ốc, ống xoắn ốc và mảnh xoắn xương.

ốc tai xuong

ốc tai xuong

1 vòm ốc tai ; 2 tầng tiền đình; 3 ống ốc tai màng; 4 tầng màng nhĩ ; 5 trụ ốc tai ; 6 ống dọc của trụ ốc ; 7 thành tiền  đình ống ốc tai màng ; 8 thành hòm nhĩ ống ốc tai màng ; 9 mảnh xoắn xương ; 10 ống xoắn trụ ốc ; 11  đáy trụ ốc; 12 phân ốc tai của thần kinh VIII

1.3.1. Trụ ốc (modiolus):

Là một trục xương hinh nón, trung tâm ốc tai đi từ đỉnh tới đáy ốc. Đáy trụ ốc (basis modioli) tương ứng với đáy ốc tai. Trong lòng trụ có những ông nhỏ chạy dọc để các sợi thần kinh ốc tai đi qua, gọi là các ống dọc trụ ốc (canales longitudinales modioli).

1.3.2. Ống xoắn ốc xương tai (canalis spiralis cochleae):

Ống xoắn ốc tai xương là một ống đào trong xương dài 30mm, đường kính giảm dần từ đáy cho tới đỉnh, quấn 2 vòng rưỡi quanh trụ gờ tai. Nơi tận hết của ống tạo nên đỉnh ốc tai. Vòng đáy của ống xoắn ốc có một phần nhô vào thành trong hòm nhĩ, tạo thành gò nhô, và có cửa sổ ốc tai thống với hòm nhĩ, có màng nhĩ phụ đậy.

Vùng đáy của ống xoắn ốc thống với tiền đình xương, và còn có một lỗ mở vào cống ốc tai (aqueductus cốchleae), cống này dẫn tới một lỗ ở mặt sau phần đá xương thái dương.

1.3.3. Mảnh xoắn xương (lamina spiralis ossea) :

Là một mảnh xương mỏng nhô ra từ trụ ốc tai và quấn quanh trụ, theo một đường xoắn ốc, như kiểu đường gờ một đinh vít. Mảnh xoắn xương có hai bò, một bờ dính vào trụ ốc tai, một bờ tự do nhô vào trong lòng ống xoắn ốc chia dở chừng lòng Ống thành hai tầng: tầng tiền đình (scala vestibuli) ở trên và tầng màng nhĩ (scala tympani) ỏ dưới, ở người sống, từ bờ tự do của mảnh xoắn xương tới thành ngoài ống xoắn ốc có màng nền (membrana basilaris) ngăn cách tiếp phần còn lại giữa hai tầng.

Bề rộng của mảnh xoắn xương cũng giảm dần từ đáy tới đỉnh ốc tai. ở đỉnh ốc tai, mảnh xoắn tận hết bởi một mỏm hình móc, gọi là móc mảnh xoắn (haniulus laminae spiralis). Giữa đỉnh ống xoắn ốc và móc mảnh xoắn có một khe hở, gọi là lỗ hay khe tận xoắn ốc (helicotrema), qua đó tầng tiền đình thống với tầng màng nhĩ.

mảnh xoắn xương

mảnh xoắn xương

Hình ốc tai (cắt đứng ngang)

1. Lỗ (khe) tận xoắn ốc: 2. tầng tiền đình; 3 ống ốc tai; 4. Tầng màng nhĩ; 5. Mảnh xoắn xương.

 

Dọc theo bờ tự do làm thành rãnh của mảnh xoắn xương có một loạt những lỗ rất nhỏ mở vào một loạt ống nhỏ chạy ngang qua bề dày của mảnh xoắn, từ bờ tự do đến bờ dính của mảnh, cho các sợi thần kinh ốc tai đi qua và liên tiếp với các ống dọc của trụ ốc. Dọc theo những điểm chuyển tiếp liên tiếp nhau giữa hai hệ thống ống ngang (của mảnh xoắn ốc) và dọc (của trụ ốc), nghĩa là dọc theo bờ dính vào trụ ốc của mảnh xoắn ốc là một ống, gọi là ống xoắn trụ ốc (canalis spiralis modioli), để cho các hạch xoắn ốc tai nằm trong.

2 MÊ ĐẠO MÀNG (labyrinthus membranaceus)

Mê đạo màng là một hệ thống ống dẫn và túi màng chứa đầy nội dịch (endolympha), nằm trong mê đạo xương và nhỏ hơn mê đạo xương rất nhiều. Mê đạo màng bao gồm: mê đạo tiền đình và mê đạo ốc tai.

sơ đồ mê đạo màng

sơ đồ mê đạo màng

Hình  Sơ đồ mê đạo màng

1. Ống bán khuyên màng trước; 2. ống bán khuyên màng sau; 3. ống bán khuyên màng ngoài; 4. Soan nang; 5. cửa sổ ốc tai; 6. ống nối; 7. cầu nang; 8. ống ốc tai màng; 9. cống ốc tai; 10. ống soan cầu nang; 11. Màng não cứng; 12. Túi nội dịch; 13. Ống dẫn nội dịch (trong cổng tiền đình).

 

2.1. Mê đạo tiền đình (labyrinthus vestibularis) hay tiền đình màng

Gồm có: soan nang, cầu nang, là hai túi màng nàm trong tiền đình xương, các ống bán khuyên màng nằm trong các ống bán khuyên xương và một hệ thống ống dẫn nhỏ khác.

Các ống bán khuyên màng mỏ vào soan nang rồi soan nang thống với cầu nang bởi ống dẫn soan cầu nang, cầu nang nôi với ống ốc tai màng qua ống nối; và nối vối soan nang bỏi ống soan cầu nang. ống soan cầu nang lại đổ vào ống dẫn nội dịch, ống này tận hết bởi túi nội dịch.

Chi tiết hơn có thể mô tả như sau:

2.1.1. Bầu tiền đình hay soan nang (utriculus):

Là một túi hình soan chiếm phần trên của tiên đình, nằm áp vào ngách bầu dục ở thành trống của tiền đình xương. Trên thành ngoài soan nang có vết soan nang (macula utriculi), nhận các sợi soan nang của thần kinh tiến đình. Từ phần trước trống soan nang có một ống dẫn nhỏ, hợp với ống tương ứng của cầu nang thành một ống dẫn soan cầu nang (ductus utriculosaccularis), nối giữa soan nang và cầu nang và đổ vào ống dẫn nội dịch.

Các ống bán khuyên đổ vào soan nang bởi 5 lỗ.

2.1.2. Túi tiền đình hay cầu nang (sacculus):

Là một túi nhỏ hơn soan nang, hình cầu, ở phía trước soan nang và nằm áp vào ngách cầu ở thành trống tiền đình xương. Trên thành trước cầu nang có vết cầu nang (macula sacculi), nhận các sợi cầu nang của thần kinh tiền đình ốc tai. Từ phần sau của cầu nang cũng tách ra một ống dẫn nhỏ, cùng với ống tương ứng của soan nang tạo thành ống dẫn soan cầu nang đổ vào ống dẫn nội dịch (ductus endolymphaticus).

2.1.3. Các ống dẫn bán khuyên hay ống bán khuyên màng (ductus semicirculares)

Là những ống màng nhỏ, nằm trống các ống bán khuyên xương, nhưng đường kính chỉ bằng 1/4 đường kính ống bán khuyên xương. Có 3 ống bán khuyên màng tương ứng với 3 ống bán khuyên xương, và mang cùng tền:

— Ống bán khuyên màng trước (ductus semicircularis anterior).

— ống bán khuyên màng sau (ductus semicircularis posterior).

— ống bán khuyên màng ngoài (ductus semicircularis lateralis).

Đầu phình của các ống bán khuyên màng tạo nên các bóng, gọi là trụ màng bóng (crura membranacea ampullariar) cổ 3 bóng màng của 3 ống bán khuyên màng:

— Bóng màng trước (amupulla membranacea anterior).

— Bóng màng sau (ampulla membranacea posterior).

— Bóng màng ngoài (ampulla membranacea lateralis).

Trong lòng mỗi bóng màng có một lồi ngang gọi là mào bóng (crista ampullaris).

Mào bóng và các vết soan nang, cầu nang là những cơ quan đặc biệt cảm giác và phản xạ thăng bằng.

2.1.4. Các ống nối tiếp của tiền đình màng

— ống dẫn soan cầu nang (ductus utriculosaccularis): là một ống màng nhỏ, nối giữa ống dẫn soan nang (ductus utricularis) với ống dẫn cầu nang (ductus saccularis, theo T.A. 1997) và thống với ống dẫn nội dịch.

— ống dẫn nội dịch (ductus endolymphaticus): liên tiếp với ống soan cầu nang, chạy qua cống tiền đình ở phần đá xương thái dương và tận hết ở túi nội dịch.

— Túi nội dịch (saccus endolymphaticus): là một túi màng, phình ra ỏ nơi tận hết của ống dẫn nội dịch, nằm dưới màng não cứng, trên mặt sau của phần đá xương thái dương (tác dụng như một van thoát của áp lực nội dịch).

— ống nối (ductus reuniens): là một ống màng nhỏ, ngán, nối giữa phần dưới cầu nang và đáy của ống ốc tai màng.

2.2. Mê đạo ốc tai (labyrinthus cochlearis) hay ốc tai màng

Là một ống màng, dài 32mm, nằm trong ống xoắn ốc xương, dọc theo khoảng giữa thành ngoài của ống này và bò tự do của mảnh xoắn xương. ống ốc tai màng hay ống dẫn ốc tai (ductus cốchlearis) cũng xoắn 2 vòng rưỡi như ống xoắn ốc xương, bên trống có chứa nội dịch và cùng với mảnh xoắn xương tạo thành một vách kín, chia khoang ngoại dịch (spatium perilymphaticum) ở trống ống xoắn ốc xương thành hai tầng: tầng tiền đình và tầng màng nhĩ.

Trên thiết đồ cắt ngang qua mê đạo ốc tai, ống ốc tai màng có hình tam giác, với 3 thành: thành màng nhĩ, thành tiền đình và thành ngoài .

Ống ốc tai

Ống ốc tai

Ống ốc tai (thiết đồ cắt ngang)

A. Tầng tiền đình; B. ống ốc tai màng; C. Tầng màng nhĩ;

1. Thành tiền đình của ống ốc tai màng; 2. Màng mái; 3. Thành ngoài của ống ốc tai màng; 4. Vân mạch; 5. Rãnh xoắn ngoài; 6. Mào nền của đày chằng xoắn; 7. Mảnh xoắn xương; 8. Hạch xoắn; 9. Viền mảnh xoắn xương; 10. Rãnh xoắn trong; 11. Cơ quan xoắn; 12. ống trong; 13. Mảnh nền; 14. Tầng màng nhĩ.

 

2.2.1. Thành màng nhĩ hay nền của ống ốc tai màng (paries tympanicus ductus cochlearis),

Còn gọi là màng xoắn ốc (membrana spiralis), được cấu tạo bơi hai phần: phần ở trên bờ tự do của mảnh xoăn xương và lá nền.

— Phần ở trên bờ tự do của mảnh xoăn xương. Cốt mạc phủ mặt trên phần ngoài mảnh xoắn xương dày lên tạo thành viền mảnh xoắn xương (limbus laminae spiralis osseae) gọi tắt là viền xoắn (limbus spiralis, theo T.A.1997). Đầu ngoài viền mảnh xoắn xương lõm hình chữ C gọi là rãnh xoăn trống (sulcus spiralis internus). Rãnh nằm giữa hai mép của viền: mép trên hay mép tiền đình của viền (labium limbi vestibulare) và mép dưới hay mép màng nhĩ của viền (labium limbi tympanicum). Mặt trên của mép tiền đình có các rãnh ngang, dọc, chia thành các ô lồi hình tứ giác nhỏ gọi là các răng thính giác (dentes acustici); trên đó có màng mái (membrana tectoria) phủ cơ quan xoắn bám. Mặt trên của mép màng nhĩ có các lỗ nhỏ cho các sợi thần kinh thính giác đi qua.

— Lá nền hay mảnh nền (lamina basilaris) là một màng căng từ mép màng nhĩ của viền mảnh xoan xương tới mào nền (crista basilaris). Mào nền là môt mào sắc nổi lên từ phần dưới của dây chằng xoắn (ligamentum spirale) ở thành ngoài của ống ốc tai màng lồi vào trống lòng ống và dính vào bờ ngoài của lá hay mảnh nền.

Nằm trên lá nền là cơ quan xoắn (organum spirale) còn gọi là cơ quan Corti bao gồm một loạt các cấu trúc thượng mô biệt hoá cao để nhận cảm thính giác, cơ quan này là nơi xuất phát của các sợi thần kinh ốc tai. Mặt dưới lá nền được phủ bởi một lớp mô liên kết mạch. Trống đó có một mạch lớn nhất gọi là mạch xoăn (vas spirale).

2.2.2. Thành ngoài của ống ốc tai màng (paries externus ductus cốchlearis):

được tạo nên bởi phần dày lên của côt mạc ỏ thành ngoài của ống xoắn ốc xương, gọi là dày chằng xoắn (lig. spirale). Phần lồi nhất của dây chằng xoắn vào bên trống ống xoắn ốc cho màng nền bám gọi là mào nền (crista basilaris) hay mào xoắn (crista spiralis)

Ngay phía trên mào nền có 1 rãnh lõm gọi là rãnh xoắn ngoài (sulcus spiralis externus); ở trên đó cốt mạc có nhiếu mạch dày lên thành một lồi nhô xoắn (prominentia spiralis); và ở trên nữa, biểu mô phủ thành ngoài ống ốc tai màng chứa nhiểu mạch máu, gọi là vân mạch (stria vascularis)

2.2.3. Thành tiền đình của ống ốc tai màng (paries vestibularis ductus cốchlearis):

Được tạo nên bởi một màng mỏng đi từ màng phủ mảnh xoắn xương tối thành ngoài của ống xoắn ốc, gọi là màng tiền đình (membrana vestibularis).

3. NỘI DỊCH, NGOẠI DỊCH VÀ CƠ CHẾ NGHE

3.1. Nội dịch (endolympha)

Mê đạo màng chứa một chất dịch lỏng gọi là nội dỊch. Đó là một chất dịch tương tự như chất dịch trống tế bào (chứa nhiếu Kali) nhưng ít protein hơn. Nội dịch có lẽ được tiết ra từ các vân mạch.

3.2. Ngoại dịch (erilympha) và khoang ngoại dịch (spatium peroymphaticum)

Mê đạo màng nằm trống khoang ngoại dịch (spatium perilymphaticum), là khoang giới hạn bởi các thành xương của các hốc mê đạo xương. Khoang ngoại dỊch chứa ngoại dỊch (perilympha). Ngoại dịch có thành phần gần giống nước não tuỷ (nhiều natri) nhưng có nhiều protein hơn nước não tuỷ. Có giả thiết cho rằng, sự khác nhau vể thành phần của nội dịch và ngoại dịch đã tạo nên sự chênh lệch về điện thế cho xung thần kinh hoạt động.

Như vậy mê đạo màng được ngâm trong ngoại dịch và chứa chất nội dịch.

Khoang ngoại dịch của ống xoắn ốc được màng xoắn xương và ống ốc tai màng chia thành hai tầng:

— Tầng trên là tầng tiền đình (scala vestibuli).

— Tầng dưới là tầng màng nhĩ (scala tympani).

Tầng tiền đình và tầng màng nhĩ thống với nhau qua khe tận xoắn ốc helicotrema) ở đỉnh ống xoắn ốc. Tầng màng nhĩ được ngăn cách với hòm nhĩ bồi nàng nhĩ phụ nhưng lại thống vói khoang dưổi nhện qua cống ốc tai (aqueductus ốchleare).

3.3. Cơ chế nghe

Nhận cảm âm thanh là do kích thích các tế bào có lống của cơ quan xoắn ốc (organum spirale) (còn gọi là cơ quan Corti) nằm ở trên màng nền của ống ốc tai nàng.

Sự chuyển dịch của các xương con và sóng âm

Sự chuyển dịch của các xương con và sóng âm

1. Màng nhĩ; 2. Xương búa; 3. Xương đe; 4. Xương bàn đạp; 5. cửa sổ tiền đình 6. Thần kinh ốc tai; 7. Tầng tiền đình; 8. Tầng màng nhĩ; 9. ống ốc tai màng; 10. Màng tiền đình; 11. Cơ quan xoắn (ở màng nền); 12. Vòi tai; 13. cửa sổ ốc tai (đậy bởi màng nhĩ phụ).

Sóng âm từ không khí qua loa tai và ống tai ngoài, tới màng nhĩ đã được chuyển thành rung động cơ học, truyền qua chuỗi xương con tới cửa sổ tiền đình.

Những rung động truyền vào ngoại dịch do chuyển động của xương bàn đạp ỏ cửa sổ tiền đình Ian tỏa qua tầng tiền đình tới đỉnh ốc tai, rồi qua khe tận xoắn ốc (relicotrema) tới ngoại dịch ở tầng màng nhĩ, và được cân bằng bởi những rung động bù trừ của màng nhĩ phụ ở cửa sổ ốc tai. Kích thích theo vùng các tế bào có lông của cơ quan xoắn ốc (cơ quan Corti) (tùy theo tần số sóng âm) là kết quả chuyển động sóng của ngoại dịch, dẫn đến thụ cảm âm thanh, và truyền theo các sợi thần kinh ốc tai lên não.

4. MẠCH MÁU VÀ THẦN KINH CỦA TAI TRONG

4.1. Mạch máu của tai trong (vasa sanguinea auris intemae)

4.1.1. Động mạch:

Động mạch mê đạo (A. labyrinthi) là nhánh của động mạch tiểu não trước dưới (A. inferior anterior cerebelli), thuộc động mạch nền (A. basilaris)

Ở đáy ống tai trong, động mạch mê đạo chia thành hai nhánh:

— Nhánh ốc tai (ramus cốchlearis) lại chia thành 12 — 14 nhánh nhỏ chạy theo các ống ơ trong trụ ốc, cấp máu cho trụ, mảnh xoắn xương và mảnh nền. Các nhánh nhỏ này tạo nên các cuộn tiểu động mạch ốc tai (glomeruH arteriosi cốchleae).

— Nhánh tiền đình (ramus vestibuli) cấp máu cho sọan nang, cầu nang và các ống bán khuyên.

4.1.2 Tĩnh mạch :

Các tĩnh mạch tiền đình (venae vestibulares) và nhận tĩnh mạch xoắn trụ ốc (vena spiralis modioli) ở dưới trụ ốc, tạo nên các tĩnh mạch mê đạo (venae labyrinthi), các tĩnh mạch mê đạo tận hết ở phần sau xoang tĩnh mạch đá trên hoặc trong xoang ngang.

4.2. Thần kinh

Thần kinh tiền đình ốc tai (nervus vestibulốcốchlearis) đi vào ống tai trong (meatus acusticus intemus) thì phân chia thành 2 phần chính: phần ốc tai đi đến cơ quan xoắn ốc (organum spirale), đảm nhận chức năng nghe; phần tiền đình vào các ống bán khuyên, sọan nang và cầu nang, đảm nhân chức năng thăng bằng.

5. ỐNG TAI TRONG (Meatus acusticus internus)

Là một ống xương đào ở trong phần đá xương thái dương, hướng từ sau ra trưóc, từ trong ra ngoài, dài trung bình lcm, đường kính 5mm. trong ống có thần kinh tiền đình ốc tai (VIII) và thần kinh mặt (VII – VII*).

Ống mở ra mặt sau phần đá xương thái dương bởi một lỗ, gọi là lỗ tai trong (porus acusticus internus).

Phần tận của ống tai trong ở trong phần đá, gọi là đáy ống tai trong (fundus meatus acustici interni).

Trên đáy ống có một mào ngang (crista transversa), chia đáy ống thành 2 tầng:

— Tầng trên gom 2 khu: khu trước là diện thần kinh mặt (area nervi facialis), có lỗ ống thần kinh mặt để các sợi thần kinh mặt chui qua. Khu sau là diện tiền đình trên (area vestibularis superior), có các sợi từ sọan nang và ống bán khuyên của thần kinh tiền đình ốc tai đi qua.

— Tầng dưới: khu sau là diện tiền đình dưới (area vestibularis inferior), có các sợi từ cầu nang của thần kinh tiền đình ốc tai đi qua.

Khu trước là diện ốc tai (area cochleae) tương ứng với dây trụ ốc tai, có dải lỗ xoăn ốc (tractus spiralis foraminosus) để các sợi của thần kinh ốc tai đi qua.

Một số hình ảnh từ atlat

n_090
n_091
n_092

Speak Your Mind

*